Chuyên mục
Soạn văn 8

SOẠN BÀI HAI CÂY PHONG ( Trích Người thầy đầu tiên của Aitmatov)

SOAN BAI HAI CAY PHONG – SOẠN BÀI HAI CÂY PHONG ( Trích Người thầy đầu tiên của Aitmatov (ai-ma-top))

1.Căn cứ vào đại từ nhân xưng( tôi, chúng tôi ) đan xen vào nhau thực ra cùng một người kể chuyện 
Xưng ‘tôi ‘ được kể theo ngôi thứ nhất số ít và ‘chúng tôi ‘ở ngôi thư nhất số nhiều.
Nhân vật xưng tôi là người con của làng Ku-ku-rêu  kể về hai cây phong gắn liền với chính mình từ thuở bé đến khi trưởng thành.
Nhân vật xưng chúng tôi, trong đó có chính tác giả là nhân vật tôi và những người học sinh với những kỉ niệm êm đềm, đẹp đẽ bên cây phong.
Mạch kể chuyện của nhân vật tôi quan trọng hơn vì đó là người dẫn dắt câu chuyện, được cảm nhận và viết ra bởi ngôn từ của chính tác giả.

Mạch kể chuyện xưng chúng tôi, cái thu hút người kể chuyện cùng bọn trẻ con và làm cho chúng ngất ngây đó là thế giới đẹp đẽ bao la ánh sáng và không gian bao la khi trèo lên cành cây phong ngang tầm cánh chim bay. Nó hiện lên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp với âm thanh, ánh sáng , màu sắc….

2. Người kể chuyện đã miêu tả hai cây phong và quang cảnh nơi đây bằng bút đậm chất hội họa :
‘Hai cây phong khổng lồ với các mắt mấu, các cành cao ngất, cao đến ngang tầm cánh chim bay, với bóng râm mát rượi, với động tác nghiêng ngã….
Có dòng sông lấp lánh, thảo nguyên hoang du,.. và lọt thỏm giữa không gian bao la ấy là chuồng ngựa bé tí teo.
Có màu sắc : chân trời xa thẳm biêng biếc, dòng sông lấp lánh… sợi chỉ bạc…
Hòa vào đó là tiếng lá cây , tiếng gió rì rầm quyến rủ nhau.
Đây là một bức tranh thiên nhiên hài hòa sống động vừa có âm thanh, ánh sáng, màu săc… được vẽ nên bằng ngòi bút tài tình của tác giả thông qua nghệ thuật kể chuyện tự sự kết hợp miêu tả.

soan bai hai cay phong

3. Nguyên nhân khiến hai cây phong chiếm vị rí trung tâm và gây xúc động sâu sắc cho người kể chuyện thông qua mạch kể xưng tôi :
– Hai cây phong gắn với quê hương, làng xóm của tác giả
– Cây phong gắn với những kỉ niệm tuổi học trò tươi đẹp của tác giả
-Thầy Đuy- sen đã đem cây phong về trồng ở ngọn đồi này cùng với cô bé An- Tư-nai. Cây phong đó là sự gởi gắm những ước mơ, hi vọng của thầy dành cho các em học sinh nghèo khổ.

Hai cây phong như là biểu tượng của làng, đó là những tâm tư, nguyện vọng và khao khát. Ở đấy tác giả còn thể hiện tình cảm yêu mến quê hương da diết của mình.

Chuyên mục
Soạn văn 9

Soạn bài Lục Vân Tiên gặp nạn ( trích Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu)

Soan bai Luc Van Tien gap nan – Đề bài: Soạn bài Lục Vân Tiên gặp nạn ( trích Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu)

1. Chủ đề của đoạn trích là Lục Vân Tiên gặp nạn, đồng thời cũng thể hiện được sự đối lập giữa cái thiện và cái ác, giữa nhân cách cao cả với những toan tính thấp hèn, hành động ti tiện.

2. Trịnh Hâm là một tên “mặt người dạ thú” để đạt được những mục đích thấp hèn, đáng khinh của mình thì hắn ta không ngại ra tay trừ khử kẻ mà mình không vừa mắt. Tâm địa Trịnh Hâm độc ác, vô tình thể hiện bản chất xấu xa, hành động ngụy quân tử. Cụ thể:

+ Là con người mưu mô, thủ đoạn: Để tiện bề cho việc ra tay sát hại Lục Vân Tiên, Trịnh Hâm đã lựa chọn một thời điểm mà “ta không hay, người không biết” đó là thời gian đêm khuya, khi mọi người đều chìm sâu vào trong giấc ngủ, như vậy sẽ không ai hay biết về hành động của mình.
+ Trịnh Hâm là con người giả nhân giả nghĩa, “vừa ăn cắp lại vừa la làng”. Sau khi xô Lục Vân Tiên xuống sông, Trịnh Hâm đã lớn tiếng kêu cứu, như hợp pháp hóa hành động sát hại của mình, biến mình từ hung thủ sang người chứng kiến. Qua đó thì mọi người cũng sẽ không ai nghi ngờ về động cơ giết người của hắn nữa. Có thể thấy hắn là một người tính toán thâm độc, để giết hại Lục Vân Tiên thì hắn đã tự dựng lên một kịch bản hoàn mĩ.
Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng phương thức tự sự làm chất liệu thơ, điều này góp phần làm tăng tính sống động, chân thực cho câu chuyện được kể, người đọc có thể hình dung về những sự việc xảy ra, thậm chí qua lời kể người đọc còn nhập thân vào bài thơ, trở thành những người trực tiếp chứng kiến sự việc.

3. Đối lập với cái ác mà điển hình là qua nhân vật Trịnh Hâm thì nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng một tương quan đối lập với cái thiện, cái tốt mà ở đây đại diện chính là Ngư ông.

+ Thấy Lục Vân Tiên chới với giữa dòng nước, Ngư Ông không mảy may suy nghĩ mà lập tức ra tay cứu vớt, Ngư ông cùng những người trong gia đình hối hả cứu giúp Lục Vân Tiên: hối con vầy lửa, ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày. Những hành động ân cần, quan tâm của gia đình ngư ông với người mà họ chẳng hề quen biết là Lục Vân Tiên khiến chúng ta ấm lòng. Cũng chính nhờ tình thương, sự lương thiện của gia đình Ngư ông mà Lục Vân Tiên đã được cứu sống.
+ Ngay khi thấy Lục Vân Tiên tỉnh lại, Ngư ông đã ân cần hỏi han sự tình, khi biết được hoàn cảnh éo le của Lục Vân Tiên, Ngư Ông đã rất cảm động mà gợi ý cho Lục Vân Tiên sống ở đây cùng gia đình mình, cuộc sống tuy nghèo khó nhưng có người bầu bạn sẽ có thể vượt qua tất cả.
+ Ngư Ông làm ơn là xuất phát từ chính tấm lòng giàu yêu thương, hành động hoàn toàn tự nguyện nên Ngư ông không hề có suy nghĩ nhận lại lời báo ơn của Lục Vân Tiên. Ta có thể thấy quan niệm sống này của Ngư ông rất giống với quan điểm sống của Lục Vân Tiên trong trích đoạn “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”.

soan bai luc van tien gap nan

+ Cuộc sống của Ngư ông tuy khó khăn nhưng lại vô cùng tự do tự tại, thong thả làm ăn, vui với những niềm vui giản đơn.
Qua hình ảnh Ngư ông, Nguyễn Đình Chiểu thể hiện tình cảm thương yêu đối với những người lao động, đề cao tình thương yêu, sự lạc quan, yêu đời của họ.

4. Câu thơ ấn tượng nhất trong bài:

“Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ                                               

Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn”

+ Câu thơ thể hiện được một quan niệm, triết lí sống thật đẹp, làm việc nghĩa là xuất phát từ tấm lòng chân thành chứ không phải vụ lợi, đòi hỏi đáp đền.
+ Là điểm sáng cho bài thơ, trong cái tối tăm của mưu mô, tàn nhẫn ta vẫn thấy được những ánh sáng thật rực rỡ của cái thiện, của những tình thương sáng trong giữa con người với con người.
+ Tạo ra thế đối lập giữa cái thiện- ác; giữa cái giả dối, mưu mô  với cái chân thành, giản dị.

Chuyên mục
Soạn văn 9

Soạn bài Chương trình địa phương lớp 9

Soạn bài Chương trình địa phương lớp 9

1. Thông qua các tài liệu như: sách, báo, tạp chí văn nghệ của địa phương mà mình sinh sống, chỉ ra những tác giả, tác phẩm tiêu biểu viết về địa phương của em.

Dẫn chứng minh họa qua trường hợp của tỉnh Hải Dương:
+ Đây là một vùng đất văn hóa đã nuôi dưỡng rất nhiều nhà văn nhà thơ lớn, những bậc hiền tài hiếm cho đất nước:
•    Nhà văn Nguyễn Dữ: Nhà văn tiêu biểu cho nền văn học Việt Nam trung đại, tác phẩm tiêu biểu nhất chính là cuốn “Truyền kì mạn lục”
•    Nhà văn Thạch Lam: một thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn, có nhiều tác phẩm nổi tiếng, tiêu biểu được nhiều ngươi biết nhất chính là tác phẩm truyện ngắn “Hai đứa trẻ”.
•    Nhà văn Nguyễn Trãi: Khi về ở ẩn tại Côn Sơn ( Chí Linh- Hải Dương) Nguyễn Trãi đã sáng tác nhiều tác phẩm hay như: bài ca Côn Sơn, cảnh ngày hè…

+ Các tác phẩm viết về địa phương như cuốn: Lịch sử cách mạng tỉnh Hải Dương, địa lí tỉnh Hải Dương…cùng nhiều tờ báo do tỉnh phát hành nói về cuộc sống với đầy đủ các lĩnh vực của tỉnh.

2. Những tác giả có sáng tác thơ văn từ 1975 đến nay rất nhiều, có thể kể đến một số cây bút trẻ tiềm năng như:

1. Nguyễn Thị Việt Nga
2. Nguyễn Đình Vinh
3. Phạm Ánh Sao
4. Nguyễn Thế Bình…

3. Sưu tầm một số tác phẩm hay về địa phương:

Côn Sơn ca- Nguyễn Trãi
Hai đứa trẻ- Thạch Lam
Yêu sao thành phố Hải Dương- Báo điện tử
Hải Dương- Quê hương tôi
Phố Cuối
Về đỉnh Phượng Hoàng
Biển tắm
Thăm bạn…..

4. Bài thơ Côn sơn ca của nhà thơ Nguyễn Trãi là một bài thơ tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của ông, không chỉ khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên, cuộc sống an nhàn ẩn dật của Nho sĩ dời chốn quan trường về nơi rừng núi mà thông qua bài thơ, cảnh sắc núi Côn Sơn của tỉnh Hải Dương cũng được phô bày đầy đủ vẻ hoang sơ, kì vĩ mà không kém phần thi vị,lãng mạn:

“Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”

Côn Sơn là một ngọn núi thấp, mang vẻ hoang sơ, dung dị như chính cuộc sống tự tại, vô lo của người hiền triết về ẩn dật. Nước suối ở Côn Sơn chảy rì rầm, tạo ra âm thanh không lớn nhưng đủ để vang vọng trong cả một không gian của rừng núi, cũng như đánh động vào tâm hồn đầy nhạy cảm của người thi sĩ. Qua cảm nhận đầy tinh tế của mình, Nguyễn Trãi cảm nhận được tiếng suối ấy như tiếng đàn cầm với những giai điệu du dương, những cung bậc trầm bổng lắng động lại trong lòng người những dư âm nhẹ nhàng mà đầy mãnh liệt.

Chuyên mục
Soạn văn 9

Soạn bài Phong cách Hồ Chí Minh văn 9

Soạn bài Phong cách Hồ Chí Minh văn 9.

1. Vốn tri thức văn hóa nhân loại của Hồ Chí Minh rất sâu rộng thể hiện:

Bác là người có rất nhiều trả nghiệm, cuộc đời bôn ba khắp các nước nên học hỏi được nhiều vốn văn hóa của các dân tộc khác về làm đa dạng thêm cho nền văn học của nước nhà, văn hóa Châu Âu, Châu Phi, Châu Mĩ đều được được bác học hỏi và tiếp thu tinh hoa của nhân loại. Khi sang Pháp Bác đã học các thứ tiếng phục vụ cho bản thân.

Bản thân Bác biết rất nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Nga…, với sự trải nghiệm thực tế của bản thân Bác đã bươn trải và tìm kiếm con đường tiến bộ cho dân tộc, với bản lĩnh kiên cường và tinh thần ham học hỏi Bác đã lao động để tự kiếm sống, ngoài tự lao động ra Bác còn học tập và tiếp thu văn hóa nhân loại.

Văn hóa Phương Tây là một nền văn hóa tiến bộ, Bác đã tiếp thu những tư tưởng tiến bộ phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, và cũng phê phán những cái tiêu cực… Bác có rất nhiều những đóng góp lớn lao.

Như những vị lĩnh tụ đi trước Bác đã học hỏi và tìm tòi ra phương pháp hữu ích hơn để phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước.

Với sự ra đi tìm đường cứu nước vào những năm 1911 nên những kiến thức mà Bác học hỏi được nó có số lượng rất lớn góp phần to lớn vào việc tích lũy vốn tri thức cho bản thân, khi học hỏi Bác không giữ cho riêng mình mà cũng biết chia sẻ cho nhân dân vận dụng những điều đã học hỏi được cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, và làm đa dạng vốn văn hóa của Việt Nam.

=>Bác có một vốn tri thức lớn như vậy vì do con đường tìm tòi và cách tiếp thu tiếp thu tiến bộ.

2. Lối sống bình dị rất Phương Đông của Bác Hồ được thể hiện:

– Trang phục bác mặc giản dị, đó là chiếc áo bà ba, chiếc áo trấn thủ và đôi dép lốp thô sơ..một người sống giản dị và trung thực khiêm tốn.

– Nơi ở và làm việc của bác: Trên chiếc nhà sàn làm bằng tre nứa, bên cạnh ao nuôi cá, nơi làm việc lý tưởng vừa giản dị mộc mạc và gần gũi với thiên nhiên.

– Khi ăn cơm Bác cũng nhường nhịn cho những chú bộ đội, thức ăn của Bác cũng rất đạm bạc: chỉ là cá kho, cà muối, cháo hoa…

– Những cử chỉ tế nhị luôn quan tâm tới trẻ em và người già biết chăm lo cho những chú bộ đội của ta, Bác là một người có tấm lòng cao thượng và trong sáng.

3. Lối sống của Bác là sự kết hợp giữa giản dị và thanh cao vì:

– Những trang phục thô sơ, quân tư trang giản dị, cách sinh hoạt đạm bạc và biết chăm lo tới mọi người, Bác sống cả đời giản dị không ham danh lợi, Bác là một vị lãnh tụ lý tưởng, và Bác cũng có công rất lớn cho sự nghiệp giải phóng đất nước của dân tộc Việt Nam.

– Lối sống của Bác vừa giản dị vừa thanh cao nó thể hiện con người chân thực của Bác, bác luôn trung thực và là một con người có phẩm chất tốt đáng để cho mọi người học tập và noi theo.

4. Nét đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh:

– Hồ Chí Minh là một con người luôn trung thực, Bác sống một cuộc đời giản dị nhưng lại thanh cao, khi viết Bác luôn xác định viết cho ai, viết như thế nào và viết để làm gì, Bác là người sống có trách nhiệm.

– Trong phong cách của Bác nổi bật lên đó là ngôn ngữ giản dị nhưng lại có sức thuyết phục cao.

Luyện tập.


1. Những lối sống giản di và cao đẹp của bác thể hiện trong đoạn văn:

Bác có hai bộ quần áo Bác mặc hết thời chiến, Bác có một bộ quân phục màu xanh, một bộ lụa Hà Đông màu gụ, khi đến thăm người đồng chí thì Bác khoác bộ ba đờ xuy.

Khi đem giặt Bác thường dặn những chiến sĩ chỗ nào rách thì vá đừng đi nhờ các cô.

Chuyên mục
Soạn văn 9

Soạn bài Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh

Soạn bài Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh.

1. Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh.


a. Văn bản thuyết minh là gì?

Văn bản thuyết minh là: là kiểu văn bản nhằm cung cấp thông tin về một hiện tượng, đặc điểm cụ thể của sự vật hiện tượng nào đó…
Đặc điểm và tính chất của văn bản thuyết minh: khác với các loại văn bản khác thì văn bản thuyết minh mục đích chính là cung cấp thông tin về sự vật hiện tượng đó, chứ không kể lại hay miêu tả sự vật, sự việc đó.

Mục đích chính của văn bản thuyết minh là trình bày một vấn đề cụ thể nhằm làm cho người đọc hiểu được nội dung mình cần trình bày là gì, nó phục vụ cho việc cung cấp thông tin, muốn cung cấp thông tin một cách hữu ích cần phải trình bày một cách chính xác khoa học và logic phải có sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của tác phẩm.


b.  Xác định đối tượng thuyết minh:

–  Đối tượng của văn bản trên là nói về khu du lịch Hạ Long đây là bài cung cấp thông tin về Vịnh Hạ Long nhằm cung cấp những thông tin cần thiết để có thể đến và tham quan du lịch tại nơi đây.

– Mục đích là cung cấp thông tin cho người đọc hiểu được sự vô tận trong vịnh Hạ Long, giúp người đọc khám phá những kì thú, và vẻ đẹp của nơi đây, những vẻ đẹp đó chỉ Vịnh Hạ Long mới có và đây là những bài để có những trải nghiệm mới mẻ về Vịnh Hạ Long.

c. Phương pháp thuyết minh của văn bản Hạ Long- đá và nước: Cách thuyết minh đơn giản dễ hiểu đã thu hút được sự chú ý của người đọc, bài này người đọc đã hiểu được những vẻ đẹp tiềm ẩn của Hạ Long.

Văn bản này khác với văn bản thuyết minh khác: đây là một bài thuyết minh về du lịch, đang đề cập tới vấn đề sự vô tận ở Hạ Long, ở đây những kì quan nổi tiếng và cách trình bày tế nhị tạo nên một phong cách độc đáo.

Bài Tập:

1. Chủ đề của văn bản: cuộc xử tôi của ngọc hoàng với ruồi xanh, trên  đây là một bài thuyết minh, vì người viết đã cung cấp thông tin về loài ruồi, đủ các chi tiết đặc sắc đây là bài thuyết minh vì đã cung câp thông tin đầy đủ về loài ruồi cho người đọc biết.

Ở bài này đã sử dụng những đặc sắc của nghệ thuật trong văn bản thuyết minh, người viết đã sử dụng nhiều những chi tiết nghệ thuật nhân hóa, và những biện pháp kể chuyện hấp dẫn thu hút người đọc.

2. Người viết đã sử dụng những phương pháp thuyết minh trong bài Ngọc Hoàng xử tội ruồi xanh là: Định nghĩa, phân loại, phân tích, nêu số liệu…
Trong phần Định nghĩa thì đã nêu được khái niệm ruồi là loài côn trùng hai cánh, phân loại được các loại ruồi, phân tích tính chất đặc điểm của nó, và nêu số liệu về ruồi xanh, về số lượng vi khuẩn…

3.  Trong văn bản trên có sử dụng biện pháp nghệ thuật: đó là biện pháp nhân hóa làm tăng mức độ cung cấp thông tin và nhấn mạnh thông tin tới người đọc.

Cách sử dụng nghệ thuật trong văn bản thuyết minh làm tăng mức độ biểu đạt, và cung cáp thông tin nó nhấn mạnh những yếu tố cần thiết trong văn bản đó, khi một văn bản được sử dụng rộng rãi thì việc sử dụng nghệ thuật trong văn bản thuyết minh là vô cùng cần thiết vì nó có một ảnh hưởng rất to lớn.

4. Trong bài Phong cách Hồ Chí Minh các biện pháp được sử dụng trong bài:
Tác giả đa kết hợp những nét tương phản trong con người Bác tuy là một vị lãnh tụ nhưng ăn mặc giản dị.

Bác đã tiếp thu những nền văn hóa của nhân loại về cho dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những tình huống vô cùng hấp dẫn và tạo ấn tượng mạnh mẽ…
5. Trong bài chim cú kêu: cũng sử dụng biện pháp nghệ thuật trong thuyết minh đó là việc giải thích, việc giải thích này có tác dụng to lớn và tạo nên một bài có sức hấp dẫn thu hút người đọc.

Chuyên mục
Soạn văn 9

Soạn bài Luyện tập sử dụng biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh

Soạn bài Luyện tập sử dụng biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh.

1. Tìm hiểu về việc sử dụng biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh

Thuyết minh về một trong các đồ dùng: cái quạt, cái bút, cái kéo, cái nón..

Thuyết minh về cái bút.

Bút là một công cụ để chúng ta ghi chép lại thông tin ngày trước khi bút chưa xuất hiện người ta đã viết lại bằng vỏ cây, hoặc bút lông, đến sự phát triển như ngày nay cây bút càng có vai trò đặc biệt quan trọng, nó giúp cho chúng ta ghi chép lại thông tin đặc biệt trong việc ghi chép thông tin, và dành cho học tập.

Cây bút có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với lứa tuổi học sinh mà nó cũng có vai trò quan trọng trong các ngành khác.., cây bút có hình thẳng đứng chỉ dài chừng cm, nó có màu lõi màu đen và bên ngoài có lõi màu trắng, tên gọi của nó là bút thiên long, khi viết nét bút uyển chuyển, dễ dàng sử dụng tiện lợi ngắn gọn với kích thước nhỏ nên dễ dàng mang đi tất cả mọi nơi nếu cần đến nó.

Cây bút không chỉ có đóng góp quan trọng mà nó cũng là một công cụ giúp chúng ta học tập, trong việc ghi chép bài vở, ghi chép thông tin, bút ngày càng xuất hiện với số lượng nhiều do nhu cầu sử dụng ngày càng gia tăng. Trong tương lai bút vẫn có vai trò rất quan trọng.

2. Viết đoạn mở bài:

Giới thiệu về cái bút:

Một công cụ đặc biệt phục vụ cho học tập và ghi chếp thông tin là chiếc bút, nó có vai trò quan trọng cho mọi đối tượng muốn sử dụng để ghi chép thông tin, mỗi cây bút đều có giá trị hết sức đặc biệt nó có tầm quan trọng lớn như vậy nên ai cũng sử dụng và được sử dụng rộng rãi.

3.  Chủ đề thuyết minh:

a. Nội dung thuyết minh là thuyết minh về chiếc kim, học đã thuyết minh theo một cách thức rất đặc biệt đó là: sử dụng hàng loạt những thống kê khác nhau về loại kim, công dụng và tác dụng của nó, vai trò của nó đối với đời sống của con người.
Chủ đề của văn bản đó là nói về họ nhà kim.

Nội dung thuyết minh xoay quanh vấn đề về vật dụng này: tác dụng của nó đối với đời sống, kích thước và hình dạng ra sao, nó có ý nghĩa gì đối với đời sống hôm nay và mai sau.

Văn bản đã lựa chọn phương pháp thuyết minh là định nghĩa, phân loại nêu chức năng vai trò và ý nghĩa của nó đối với đời sống của con người hôm nay và mai sau.

Trong văn bản đã sử dụng yếu tố nghệ thuật trong văn bản thuyết minh đó là biện pháp nhân hóa qua đó để nhấn mạnh tầm quan trọng của vật dụng tuy nhỏ những có giá trị lớn lao này.

b. Chủ đề của đoạn này nói về nói về loài kiến:

Vấn đề này được thuyết minh theo phương pháp chứng minh, nó lạ ở điểm nào, ý nghĩa của những cách thức sử dụng thuyết minh, cách thức được sử dụng trong bài này là liệt kê, tác giả đã liệt kê các cái lạ của loài kiến này, qua đó để nhấn mạnh chủ đề mà tác giả đã nói ở trên.

Ở đây tác giả cũng sử dụng biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh, nó có tác dụng rất to lớn trong quá trình thuyết minh và cung cấp thông tin cho mọi người, mỗi người khi đọc những yếu tố lạ của kiến sẽ thấy được giá trị biểu cảm và mục đích truyền đạt thông tin của tác giả đúng với yêu cầu và nội dung cung cấp thông tin cho người đọc.

Ở đây tác giả đã vận dụng rất thành công biện pháp nghệ thuật trong 2 văn bản trên, điều đó có vai trò quan trọng cho việc cung cấp thông tin tới người nghe.

Chuyên mục
Soạn văn 9

Soạn bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của G.Mác Két

Soạn bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của G.Mác Két lớp 9.

1. Tác giả.

– Mác két là nhà văn lớn của Comlombia ông đã có rất nhiều những đóng góp lớn lao cho nền văn học của nước đó, với khát vọng sống tự do và khao khát được sống trong một thế giới hòa bình.

– Ông đã viết lên tác phẩm này nhằm nói về cuộc đấu tranh vì một thế giới được hòa bình.

2. Tác phẩm.

– Tác phẩm của ông được viết để nói về cuộc đấu tranh của nhân loại, cả nhân loại đang súc xôi đấu tranh cho một nền hòa bình, ông đã viết lên tác phẩm này nhằm mong muốn khao khát sống trong cảnh hòa bình.


3. Tìm hiểu tác phẩm
3.1. Hệ thống luận điểm và luận cứ trong văn bản.

– Tác giả đã sử dụng hàng loạt những luận điểm để nói về cuộc chiến tranh: Chiến tranh đã tàn phá đe dọa tính mạng con người trên trái đấ, vì vậy mỗi người luôn đấu tranh hết mình để chống nguy cơ chiến tranh và bảo vệ một nền độc lập.
– Luận cứ: Tác giả đã thống kê về số lượng của vũ khí hạt nhân, với một số lượng lớn nó có thể hủy hoại đi toàn bộ thế giới.
– Sự mất cân bằng sinh thái sẽ diễn ra nếu như những vũ khí hạt nhân đó bị dội xuống.
– Hàng năm chúng ta vẫn phải đấu tranh để bảo vệ hòa bình và chống nguy cơ chiến tranh.
– Những cuộc chạy đua lớn dẫn tới phá hủy những mốc tài chính, vì thiệt hại cho nhũng cuộc chiến tranh này gây lên la rất lớn.
– Đấu tranh cho những hành vi thích sử dụng chiến tranh để đạt được mục đích về chính trị.
– Sự chạy đua vũ trang là đi ngược lại với lý trí của con người.


2.  Nguy cơ chiến tranh sẽ đe dọa đến toàn bộ con người và hủy hoại thế giới đã được tác giả dùng dẫn chứng để chứng minh:

– Số lượng vũ khí hạt nhân lớn nó bao trùm lên toàn bộ hành tinh, tác giả đã sử dụng số liệu để thống kê điều đó, có 50 nghìn đầu đạn hạt nhân khắp hành tinh, đây là một con số khổng lồ, nó có ảnh hưởng rất lớn đến con người và hủy hoại sự sống trên trái đất.

– Hàng loạt con người đang sống trong một bể chất hóa học hàng ngày hàng giờ đang đe dọa lấy sự sống theo như tác giả thống kê thì vũ khí hóa học, thuốc nổ có nguy cơ hủy diệt tới 12 lần sự sống trên trái đất..nó có ảnh hưởng xấu tới con người trong một hệ mặt trời.

Tác giả đã sáng tạo khi sử dụng số liệu để thống kê về mức độ nguy hại của nó, đây là một vấn đề cấp bách và được quan tâm hàng đầu.


3. Sự tốn kém và vô lý của cuộc chạy đua vũ trang được thể hiện:

Số tiền cho những cuộc vũ trang này lên tới một con số khổng lồ có thể tới ngàn đô, hàng trăm những chi phí được sử dụng trong khi nguồn viện trợ thì thiếu.

Tác giả đã nói về sự vô lý đó thông qua những hành động để đòi lợi cho cá nhân, cá nhân thì đang vụ lợi qua những cuộc vũ trang đó.
Các chương trình quan trong về giáo dục, y tế, thực phẩm… không có ngân sách để thực hiện trong khi những cuộc đấu tranh vũ trang không đem lại lợi ích gì đi ngược lại với ý chí của con người lại tốn một khoản lớn như vậy.

Sự lãng phí đã là sự thiếu hụt và mất cân bằng trong hệ tài chính của một quốc gia, những sự lãng phí đó còn thể hiện khi chi phí sản xuất 10 vũ khí nguyên tử có thể bằng 1 tỉ người đang mắc bệnh và chờ được cứu, vậy đây là những nguồn chi không cần thiết, và dư thừa trong khi những cái quan trọng thì không thực hiện.

Sự vô lý: Tính mạng con người thì không được cứu trong khi cứ lo sản xuất vũ khí hạt nhân, điều đó đi ngược lại với ý chí của con người, có thể thấy số tiền để hủy diệt thế giới thì lớn trong khi số tiền cứu người thì không đây là điều mà tác giả đã nêu trong sự vô lý.

4. Nhà văn đã cảnh báo vũ khí hạt nhân có thể hủy hoại sự sống của con người và trái với lý trí của con người và lý trí của tự nhiên vì:

+ Lý trí của con người:

– Con người luôn mong muốn có chi phí để cứu giúp những người khó khăn chứ không phải cho chi phí vào để sản xuất thứ hủy diệt sự sống.

– Sự sống trên trái đất sẽ bị hủy diệt bất cứ lúc nào nếu cứ cho sản xuất cái vĩ khí này

– Con người mong sống trong sự hòa bình, không có chiến tranh.

– Muốn sống trong sự bình yên và hạnh phúc chứ không muốn có sự giết tróc và hủy diệt, sự sống của con người đang bị đe dọa hàng ngày hàng giờ vậy nên con người đã có những ý kiến đó, và nó lại đi ngược với vũ khí hủy diệt.

+ Lý trí của thiên nhiên:

Thiên nhiên trong lành và con người sống hòa bình không mong muốn toàn bộ trái đất bị hủy diệt.
Tác giả đang mong muốn sống trong cảnh hòa bình nếu những vũ khí hạt nhân đó được đổ ra trái đất thí nó hủy hoại đến hàng tram ngàn năm và không bao giờ có thể mất được.


5. Văn bản đặt tên là đấu tranh cho một thế giới hòa bình bởi vì: Con người đang mong muốn sống trong cảnh hòa bình, không có chiến tranh không có đau thương.

Những điều đơn giản những có giá trị cho cả một thời đại con người đang sống vì vậy con người đã đấu tranh cho một thế giới hòa bình.

Chuyên mục
Soạn văn 9

Soạn bài các phương châm hội thoại tiếp theo ngữ văn 9

Soạn bài các phương châm hội thoại tiếp theo ngữ văn 9.

1. Phương châm quan hệ.

– Trong giao tiếp cần chú trọng tới phương châm quan hệ đó là những từ nối giữa các phần với nhau, tạo nên một cách thức và một nhu càu giao tiếp cơ bản đây là phương châm hay được sử dụng.

2. Phương châm cách thức:

– Trong giao tiếp cần chú ý tới việc nói dễ nghe, nội dung trong câu truyện mình nói ra sẽ mang một nội dung xác thực nó ảnh hưởng tới nội dung và mục đích giao tiếp, tránh cách nói mơ hồ để người khác dễ hiểu nhầm.

– Nói đúng mục đích của cuộc giao tiếp ngắn gọn và mang ý nghĩa sâu sắc.
Tránh nói dài dòng như nhiều câu thành ngữ đã nói: nói dây cà ra dây muống…

3. Phương châm lịch sự:

– Trong giao tiếp cần phải đảm bảo yếu tố lịch sự không nên sử dụng những từ ngữ thô điển, mà nên tế nhị trong giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ lịch sử được coi là văn hóa giao tiếp của cộng đồng.

Bài tập.

1, Qua những câu tục ngữ trên ông cha ta đang khuyên điều gì?

a. Lời chào hơn hơn mâm cỗ: Đây là phương châm lịch sự trong giao tiếp, câu này được đúc kết từ xưa tới nay theo một cách thức và nền văn hóa của nhân loại, những lời nói tế nhị lịch sự là những lời chào, hay còn được coi trọng, và đây là một cách nói và khuyên chúng ta nên ăn nói lịch sự, tế nhị.

b. Lời nói không mất tiền mua lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau: Đây cũng là những câu khuyên ngăn về cách ăn nói lịch sử tế nhị, lời nói không mất tiền mua vì vậy con người nên chọn lựa những ngôn ngữ phù hợp với mục đích giao tiếp và mang văn hóa giao tiếp.

c. Kim vàng ai nỡ uốn câu- người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời: Câu này cũng giáo dục về những phép lịch sự trong giao tiếp, nên lựa chọn ngôn ngữ lịch sử tế nhị không nên ăn nói những từ ngữ thô tục và làm mất giá trị văn hóa của ngôn ngữ.

2. Phép tu từ đã học liên quan tới phương châm hội thoại đó là: Biện pháp nói giảm nói tránh, đây là biện pháp liên quan tới phương châm lịch sự.

Ví dụ: Bác Dương thôi đã thôi rồi trong câu này tác giả sử dụng từ thôi để nói về mức độ tế nhị, tránh gây cảm giác đau lòng…

3. Điền từ.
a. Nói mỉa.
b. Nói hớt.
c. Nói móc
d. Nói leo.
e. Nói ra câu ra đũa.

Xác định phương châm hội thoại: trong những câu trên tác giả đã sử dụng chủ yếu là phương châm lịch sử, riêng có câu e tác giả đề cập tới phương châm cách thức vì muốn xác định về mức độ chính xác của thông tin và yêu cầu đúng đặt ra trong tác phẩm.

4. Người nói phải nói theo cách thức như vậy vì muốn lịch sự và tế nhị đây là đáp ứng yêu cầu của phương châm lịch sử:

a. Nhân tiện đây xin hỏi: Đây là một cách hỏi lịch sự và thu hút sự chú ý của người nghe.

b. Cực chẳng đã tôi phải nói, tôi biết nah buồn và suy nghĩ những mong anh bỏ quá cho: Đây là sự giao tiếp khá tế nhị và khéo néo, câu này có ý nghĩa lớn trong việc lựa chọn thông tin và yêu cầu của cuộc giao tiếp.

c. Đừng nói leo, đừng ngắt lời như thế…. Đây là một lời cảnh báo về cách thức lịch sự, trong giao tiếp phương châm lịch sự là một yếu tố cực kì quan trọng và nó có ảnh hưởng lớn tới nội dung và kết quả giao tiếp.

5. Giải thích câu thành ngữ xem thuộc phương châm hội thoại nào?

a. Nói băm bổ: Đây là cách giao tiếp nhanh, không có trọng điểm và chưa xác định được mục đích giao tiếp nói dài dòng đây là thuộc phương châm cách thức.

b. Nói như đấm vào tai: Đây là cách ăn nói thôi tục không tế nhị, đây thuộc phương châm lịch sự.

c. Điều nặng điều nhẹ: Đây là lời trách móc và thuộc phương châm lịch sự.

d. Nửa úp nửa mở: Đây là cách nói vòng vo không có mục đích, muốn gợi mở những để người nghe khó hiểu, thuộc phương châm cách thức.

e. Đánh trống lảng: Nói nản tránh vào việc chính, nó thuộc phương châm cách thức.

g. Mồm ngoa mếp giải đây là cách ăn nói thô tục sai sự thật, thường là nói quá..đây thuộc phương châm lịch sự và phương châm vè chất.

h. Nói như dùi đục chấm mắm cáy: Nói về cách thức giao tiếp bất lịch sự thô tục… Đây thuộc phương châm lịch sự…

Chuyên mục
Soạn văn 9

Soạn bài Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh

Soạn bài Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh lớp 9.

1. Văn bản dưới thuyết minh về cây chuối trong đời sống ở Việt Nam.

Trong bài này đã miêu tả về hình dạng của cây chuối từ quả chuối thân chuối, cách ăn chuối, lá chuối…

Khi chuối chín có mùi thơm, chuối trứng cút không phải là quả tròn mà như trứng cuốc mà vở chuối có những vệt lốm đốm như vỏ trứng cuốc.
Có buồng chuối tram quả có buồng nghìn quả.

Lá chuối to có màu xanh, thân thì thấp nhưng có buồng quả rất sai, cách ăn chuối bóc vỏ ngoài có tác dụng là nguồn thực phẩm tốt mà còn là một loài mĩ phẩm hay.


2. Việc sử dụng miêu tả khi thuyết minh đặc điểm về cây chuối:

Người viết đã cung cấp thông tin đầy đủ cho người đọc về cây chuối khi có sự miêu tả đó thì giúp cho người đọc hình dung ra sản vật đó và dễ dàng nhận biết hơn.

Nó làm tăng sự sinh động và hấp dẫn trong việc thuyết minh, đỡ bị nhàm chán mà sản phẩm mình cung cấp tiện lợi và cũng góp phần rất lớn vào việc giúp người khác nắm rõ được thông tin của mình.

Đây là một sản vật của Việt Nam và nó có tác dụng rất lớn trong đời sống của con người.

Tác giả đã miêu tả về cây chuối: đi khắp Việt Nam, nơi đâu ta cũng gặp cây chuối thân mềm vươn lên như những trụ cột nhẵn bóng….

Gốc chuối tròn như đầu người, lớn dần theo thời gian, có dễ chum dưới mặt đất..

Có nhiều loại chuối: Chuối hương, chuối ngự, nào chuối sứ,…

Trong văn thuyết minh nếu thêm yếu tố miêu tả vào sẽ làm tăng sự biểu đạt ý nghĩa trong câu và nó có tác dụng rất lớn đối với thuyết minh để cung cấp một thông tin cần thiết cần gũi với con người.

Bài tập:

1. Văn bản cây chuối đã đảm bảo được việc cung cấp thông tin cho người đọc, người nghe về đối tượng là cây chuối, thêm những yếu tố miêu tả vào trong văn bản thuyết minh làm gia tăng giá trị biểu cảm và mức độ thông tin sẽ dễ dàng hơn.

Người đọc và người nghe nắm rõ được thông tin trong việc miêu tả chi tiết cụ thể những hình ảnh của cây chuối, cây chuối có vai trò và ý nghĩa đối với đời sống của nhân dân vì vậy việc miêu tả đó giúp cho người đọc chưa từng biết tới cay chuối vẫn có thể hình dung tốt về cây chuối, và biết những chức năng và tác dụng của nó.

2. Những đặc điểm khác của cây chuối có thể thuyết minh để người đọc hiểu rõ hơn:

Khi mới mọc lá chuối như thế nào, thân hình được miêu tả to bằng cái gì, nõn chuối có tác dụng gì, lá chuối khô để làm gì, lá chuối tươi, quả chuối, buồng chuối có hình dạng như thế nào, củ chuối màu gì, nó được so sánh như thế nào…

3. Câu miêu tả trong văn bản con ếch:

– Lưng ếch có màu xanh lục hay màu nâu, pha một ít chấm đen..
– Ếch tuy ở dưới nước những thở bằng phổi bằng da, còn tim ếch lại có nhiều hơn tim động vât khác một tâm thất.
– Ếch đi lại bằng hai chân.Hai chi sau dài hơn hai chi trước, giữa các ngón có màng, bắp thịt nở nang.
– Đầu ếch có hình tam giác lại dẹt, ít gây trở lực khi bơi, cho nên ếch bơi nhanh.
– Lưỡi ếch là một công cụ đặc biệt để bắt mồi: lưỡi dài và cuống lưỡi gắn với cơ ở hàm răng trước.

4. Các yếu tố miêu tả ở văn bản trên có tác dụng:

Văn bản trên khi người viết cho yếu tố miêu tả vào thì nó có tác dụng rất to lớn trong việc biểu cảm và cung cấp thông tin về con ếch, người nghe sẽ hình dung thông qua những yếu tố miêu tả của tác giả. Trong việc miêu tả trong văn bản thuyết minh nó có vai trò rất lớn trong việc cung cấp thông tin chính xác cho người đọc.

Ngoài ra nó cũng có sức ảnh hưởng rất lớn đến việc tăng giá trị biểu cảm của văn bản đó đối với một tác phẩm, và nó cũng có những thông tin được miêu tả chi tiết cho những hành trình khám phá và nghiên cứu.

Chuyên mục
Soạn văn 9

Soạn bài Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh

Soạn bài Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh.

1. Giải thích đề tài:

Giới thiệu con trâu ở làng quê Việt Nam: Con trâu ở Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong lao động và sản xuất nó là nguồn cung cấp sức kéo nông nghiệp. Đối với vùng quê nghèo như ở Việt Nam thì con trâu vẫn đóng vai trò rất quan trọng.


2. Trong bài giới thiệu về con trâu trong bách khoa nông nghiệp bao gồm các ý :

Do xã hội rất cần có sức kéo và một nguồn thực phẩm phong phú nên trâu đóng vai trò rất quan trọng, nó cung cấp sức kéo, cung cấp lương thực ngoài ra nó còn là một nguồn nguyên liệu cho việc tưới và nuôi trồng cây ăn quả, cây lương thực…

Luyện tập:

1. Viết một số đoạn văn về con trâu kết hợp miêu tả:

Dân tộc Việt Nam chủ yếu là nông nghiệp vì vậy nhu cầu về sức kéo là vô cùng quan trọng từ xưa tới nay nó là nguồn cung cấp sức kéo chủ yếu.Từ xa xưa ông bà ta đã nuôi trâu, nó được xem như cả một sản nghiệp của gia đình. Con trâu là đầu cơ nghiệp nó có vai trò rất lớn trong mỗi con người, giá trị của nó không chỉ được tính bằng vật chất mà nó còn là nguồn rất thiết thực.

Trong nông nghiệp ngoài là sức kéo nó còn giúp cho nhân dân cày, bừa… tất cả các khâu trong nông nghiệp trâu đều đảm nhiệm, không phải làm những việc thủ công như phải cuốc nữa mà giờ đã có sức kéo của trâu để có thể cày bừa ra những thừa ruộng tốt tươi.Bên cạnh trong lĩnh vực nông nghiệp trâu còn cung cấp một lượng phân bón vô cùng lớn.Để tiết kiệm được chi phí của sản xuất nông nghiệp nhân dân ta sử dụng phân của trâu để ủ để làm một nguồn phân bón tưới cây trồng phục vụ sản xuất.Có thể thấy rằng trâu có vai trò rất to lớn trong đời sống của người dân ở làng quê Việt Nam.

Mỗi chúng ta đều nhìn thấy những điểm thiết thực của nó, trâu bắt nguồn và được nuôi chủ yếu từ miền núi trên những thảo nguyên hay những cánh rừng rộng lớn.Trước đây trâu chủ yếu được nuôi thành bày đàn và được chăn trên những vùng rộng lớn, để phát triển cho kinh tế gia đình nhân dân ta đa biết nuôi trâu trong phạm vị gia đình phát triển mô hình kinh tế hộ gia đình.

Ngày nay trâu được nuôi mục đích chính là để cung cấp thực phẩm, trong những làng quê cũng là một sức kéo, trâu nuôi chỉ trong những con đơn lẻ không còn được nhiều như trước nữa vì vậy người dân cũng có điều kiện để chăm sóc và nuôi nó tốt hơn, chuồng trại được xây dựng hợp lý thoáng mát thuận lợi cho trâu sinh trưởng và phát triển.

Trâu trong làng quê Việt Nam rất phổ biến không ai là không biết đến con trâu và nó giữ một vị trí đặc biệt trong đời sống của con người bởi con trâu đến ngày nay vẫn là đầu sản nghiệp.

Trong các lễ hội trâu là con vật được dùng để thờ cũng hoặc là một phương tiện để thực hiện trò chơi nổi bật lên là lễ hội trọi trâu ở Hải Phòng hàng năm vẫn được diễn ra sôi nổi và thu hút nhiều người đến xem và tham quan.