Chuyên mục
Soạn văn 10

Soạn bài chọn sự việc chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự

Trong một bài văn để biểu thị cảm xúc của mình, người viết thường có hai cách thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp để đưa ra vấn đề mình đề cập.Nhưng đối với văn tự sự thì thường dùng cách gián tiếp tạo sự sinh động cho bài văn.Nhưng để thêm sinh động và cuốn hút bạn đọc thì người viết phải chọn lựa kĩ sự việc, chi tiết thật tiêu biểu, phù hợp.

I. Khái niệm

1. Tự sự

– Là kể chuyện, phương thức dùng ngôn ngữ kể lại một chuỗi các sự vật, sự việc từ sự vật, sự việc này dẫn đến sự việc kia cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa.

2. Sự việc

– Là cái xảy ra được nhận thức có ranh giới rõ ràng, phân biệt với những cái xảy ra khác.

– Sự việc được thể hiên bằng lời nói, cử chỉ, hành động của nhân vật trong quan hệ đối thoại với nhân vật khác.

– Sự việc tiêu biểu là: là những sự việc đặc biệt góp phần tạo nên cốt truyện.

3. Chi tiết

Mỗi sự việc lại bao gồm nhiều chi tiết:

– Chi tiết là tiểu tiết của tác phẩm, nằm trong sự việc có thể là một lời nói, một cử chỉ, một hành động của nhân vật hay một hình ảnh thiên nhiên.

– Chi tiết tiêu biểu là chi tiết thể hiện tập trung, rõ nét sự việc tiêu biểu.

=> Chọn chi tiết tiêu biểu là khâu quan trọng trong quá trình viết hoặc kể lại một câu chuyện.

II. Cách chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu

1. Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

a. Nội dung văn bản

– Công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước: xây thành, chế nỏ…

– Câu chuyện ấy cũng nói lên được tình cha con máu mủ ruột già giữa An Dương Vương và Mị Châu.

–  Tình phu thê giữa Trọng Thủy và Mị Châu.

Qua diễn biến câu chuyện ta thấy được cái kết của số phận người con và số phận trong tình yêu.

b. Đó chính là sự việc và các chi tiết tiêu biểu, vì chúng đều mở ra bước ngoặt và tình tiết mới.

– Nếu trong câu chuyện này thiếu những chi tiết tiêu biểu thì sẽ không tạo nên một cốt truyện, mà câu chuyện không có cốt chuyện thì chưa được coi là câu chuyện hay. 

Nếu thiếu câu chuyện chỉ dừng lại việc Triệu Đà kéo quân sang đánh Âu Lạc và giành thắng lợi. Sẽ không có thêm tình tiết Trọng Thủy phải tìm theo dấu vết Mị Châu vì tình yêu trân thực, rồi để hối hận đã muộn màng.

Kết thúc của chi tiết này là việc tự vẫn tại giếng Loa Thành để tạo nên chi tiết ngọc trai, giếng nước.Và thiếu nó thì không có bi kịch của câu chuyện về Mị Châu – Trọng Thủy và thái độ của nhân dân với hai nhân vật ấy.

2. Câu chuyện người con trai Lão Hạc quay trở về vào một ngày sau cách mạng tháng Tám – 1945

– Sự việc diễn ra: Người con trai của Lão Hạc quay trở lại nhà và tìm đến ông giáo, rồi sau đó được nghe ông giáo kể lại về mọi chuyện.

– Các chi tiết:

+ Sự thay đổi của ông giáo sau bao nhiêu năm tuy ông đã già đi nhiều, nhưng tinh thần của ông lại lạc quan, đổi mơi hơn trước.

+ Ông nghe người con trai của Lão Hạc kể về chuyện anh đã từng trải qua, và ông rất xúc động kể về cái chết của cha anh ta.

+ Ông giáo đưa anh đến viếng mộ người cha, khung cảnh xung quanh lạnh lẽo, u buồn.

+ Người con trai nghẹn lòng, xúc động “anh thắp hương cúi đầu trước mộ cha, đôi mắt đỏ hoe, miệng mếu máo như muốn khóc…” cũng như nỗi day dứt khi biết người cha già vì mình hi sinh cả cuộc đời cũng như tính mạng.

+ Ông giáo cũng ngấn ướt lệ.

3. Cách chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự

Các bước:

– Xác định đề tài, chủ đề câu chuyện.

– Dự kiến cốt truyện ( các sự việc tiêu biểu ).

– Triển khai các sự việc bằng các chi tiết.

III. Luyện tập

Bài 1: Truyện “ Hòn đá xấu xí”

– Chi tiết “ hòn đá xấu xí được phát hiện”  rất quan trọng không thể thiếu. Nếu chi tiết này bỏ đi hoặc không có thì câu chuyện sẽ không có gì để kể và cũng như không có tình tiết gì đặc sắc trong câu chuyện muốn kể.Ý nghĩa của câu chuyện cũng sẽ không được rút ra.

– Rút ra bài học về cách lựa chọn: phải chọn lọc và tìm ra được những sự việc và chi tiết đắt giá để tạo nên sự cuốn hút, hấp dẫn cho câu chuyện. Đồng thời cũng thể hiện được rõ nhất tính cách nhân vật, làm nổi lên chủ đề tư tưởng mà câu chuyện muốn mang đến bạn đọc.

Bài 2:Truyện: “Uylitxơ trở về”

– Đoạn văn “ Uylitxơ trở vể” kể chuyện nàng Pê-nê-lốp thử thách chồng bằng bí mật chiếc giường và nhận ra chồng mình bằng một cách rất thông minh và cảm động.

– Trong đoạn cuối của đoạn trích có một sự việc rất quan trọng, Hô-me-rơ đã tưởng tượng ra cảnh “ người đắm tàu” để so sánh với tâm trạng của nàng Pê-nê-lốp khao khát được gặp chồng mình, nỗi niềm muốn gặp mặt, sum họp của vợ chồng Pê-nê-lốp. Đây là chi tiết đắt giá tạo nên thành công cho Hô-me-rơ trong cách viết sử thi, đặc tả được tâm trạng của nhân vật mà đồng thời còn gây cảm xúc đồng cảm giữa người đọc và nhân vật.

Chuyên mục
Soạn văn 10

Soạn bài đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

I. Khái niệm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

1. Ngôn ngữ nói

Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh, dùng trong giao tiếp hàng ngày giữa con người với con người, trong đó hai người có thể thay phiên nhau đóng vai trò người nói hoặc người nghe.

2. Ngôn ngữ viết

Ngôn ngữ viết là ngôn ngữ được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản, người tiếp nhận bằng thị giác.

II. Những đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

1. Ngôn ngữ nói

– Ngôn ngữ nói rất đa dạng về ngữ điệu: giọng nói có thể nhanh hoặc chậm, to hay nhỏ, cao hay thấp, mạnh hay yếu… Ngữ điệu trong ngôn ngữ là yếu tố quan trọng bộc lộ được thông tin của chủ thể giao tiếp muốn truyền đạt tới người tiếp nhận hoặc nó cũng đồng thời bổ sung thông tin.

– Trong ngôn ngữ nói thì ngoài âm thanh và giọng điệu thì còn có rất nhiều những phương tiện khác hộ trợ cho quá trình nói như: nét mặt, cử chỉ, suy nghĩ thể hiện qua cả ánh mắt,…

– Hệ thống từ ngữ trong ngôn ngữ nói thì vô cùng đa dạng: từ ngữ địa phương, tiếng lóng, các biệt ngữ, khẩu ngữ, các trợ từ, thán từ, các từ ngữ đưa đẩy…Đôi khi trong ngôn ngữ nói được rút gọn tối giản có khi chỉ còn một từ nhưng có câu lại nói rườm rà, dài dòng hay có câu lại lặp đi lặp lại..vv ( giúp nhấn mạnh để truyền đạt rõ cho người nghe hiểu được hoặc rút ngắn gọn lại trong những trường hợp đặc biệt).

– Ngôn ngữ nói được hình thành nhanh chóng trong quá trình thực hiện lời nói, không phải chỉnh sửa hay chuẩn bị lâu dài.

2. Ngôn ngữ viết

– Ngôn ngữ viết được thể hiện qua chữ viết trong văn bản, hình thành một cách có chọn lọc kĩ càng, có suy nghĩ và căn chỉnh một cách cẩn thận.

– Từ ngữ trong ngôn ngữ viết được chỉnh sửa, thay thế và có độ chính xác cao. Trong khi trình bày lên văn bản mỗi người lại có một cách lựa chọn hệ thống ngôn ngữ khác nhau sao cho phù hợp nhất với mục đích người sử dụng.Qua đó tạo được phong cách độc đáo rất riêng cho mỗi người, tạo ấn tượng cho người đọc.

–  Trong ngôn ngữ viết đặc biệt rất tránh sử dụng những từ tính khẩu ngữ, từ địa phương, tiếng lòng… Cấu trúc câu thì thường những câu đầy đủ nội dung và đúng về hình thức. Tránh câu dài dòng, xáo rỗng, những câu rút gọn mà làm mất nội dung khiến người đọc khó hiểu được.

– Trong ngôn ngữ viết thì được hỗ trợ cùng các hình ảnh, kí hiệu, sơ đồ, bảng biểu…góp phần làm sinh động và rõ nội dung hơn.

3. Ưu, nhược điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

– Với ngôn ngữ nói là ngôn ngữ được nói ra tức thời, không có thời gian chỉnh sửa, gọt giũa kĩ càng. Khi giao tiếp thì người nghe có thể phản hồi lại ngay trực tiếp để góp ý sửa đổi cho người nói rút kinh nghiệm và hoàn thiện quá trình giao tiếp của mình hơn. Người tiếp nhận cũng được tiếp nhận ngay tức khắc nên có thể chia ra hai trường hợp: một là người tiếp nhận hiểu được và hiểu chính xác hay là có thể hiểu lệch lạc.

– So với ngôn ngữ nói thì ngôn ngữ viết được chuẩn bị kĩ và có sự điều chỉnh nên sai sót gặp phải sẽ ít hơn.Cách truyền đạt tới người tiếp nhận cũng sẽ được cụ thể, người đọc có thể đọc đi đọc lại nhiều lần.Nhưng ngoài ra muốn giao tiếp được bằng ngôn ngữ viết thì hai bên đều phải hiểu các kí tự chữ viết, chính tả, những quy định về văn bản hay những quy tắc trong khi dùng dấu hiệu.Cách sử dụng ngôn ngữ viết cũng có thể gây thắc mắc cho người đọc, nhiều khi không thể giải quyết được ngay tức thì.

III. Luyện tập

1.Đặc điểm ngôn ngữ viết của đoạn trích trong bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

– Các hệ thống thuật ngữ được sử dụng: vốn từ, từ vựng, ngữ pháp, phong cách, thể văn…

– Cách tách ý rõ ràng thành ba dòng để giúp cho người tiếp nhận dễ hiểu hơn

-Dùng các chỉ từ( một là, hai là, ba là…) để đánh dấu các luận điểm và thứ tự trình bày.

– Dùng các dấu câu: dấu chấm, dấu phẩy, dấu ba chấm, dấu ngoặc kép, dấu ngoặc đơn.

– Sử dụng cách giải thích là cho vào trong ngoặc.

2. Đặc điểm của ngôn ngữ nói của đoạn trích trong truyện Vợ nhặt

– Sử dụng các từ ngữ trong ngôn ngữ nói hàng ngày như: mấy, có khối, sợ gì, nói khoác, đằng ấy, cười tít…

– Các từ hô gọi: kìa, này, nhà tôi ơi, đằng ấy…

– Các từ tình thái: có khối…đấy, đấy, sợ gì…

– Miêu tả các cử chỉ điệu bộ cùng với lời nói như: đẩy vai, cười ( nắc nẻ), cong cớn, ngoái cổ, ton ton chạy…

3.

a) Cần bỏ từ “ trong” để có chủ ngữ và từ “thì” ; thay từ “ hết ý” bằng từ như “ rất” (đẹp) hoặc “ vô cùng”…

b) Thay từ “vống lên” bằng từ “ quá mức thực tế”, thay “ vô tội vạ” bằng “ vô căn cứ”.

c) Bỏ từ “ sất”, thay từ “ thì” (thứu 2) bằng từ “ đến”. Tuy nhiên câu này cần thay đổi cả nội dung vì câu tương đối tối nghĩa.

Chuyên mục
Soạn văn 10

Soạn bài Lời tiễn dặn văn học lớp 10

I.Giới thiệu chung

1. Về thể loại truyện thơ

– Truyện thơ là những tác phẩm tự sự được kể lại bằng thơ, mang đậm nét trữ tình. Truyện thơ cũng có cốt truyện nhưng do được thể hiện bằng những câu thơ nên nội dung sẽ trừu tượng, đòi hỏi người đọc suy ngẫm.

2. Truyện thơ Tiễn dặn người yêu

Truyện Tiễn dặn người yêu là một câu truyện thơ tình nổi tiếng và xúc động của dân tộc Thái.Truyện kể về cuộc đời của một đôi trai gái, tình yêu nồng thắm giữa họ và những đau khổ trắc trở họ phải trải qua trước khi đến bên nhau.Mở đầu truyện nói đến sự gắn kết giữa hai người từ khi còn nhỏ đã là một đôi bạn rất tốt, rồi cứ thế lớn lên họ bên cạnh nhau và tình cảm nảy nở thật đẹp. Nhưng thật đáng tiếc thay họ lại không lấy được nhau bởi nhà chàng trai kia quá nghèo, gia đình nhà cô gái không chấp nhận chàng trai ấy.

Họ đau khổ khi phải chia ly, đến một ngày nọ gia đình nhà cô gái gả cô cho một nhà quý tộc giàu có không mấy lâu sau cô bị bán vào cửa quan.Cuộc đời cô long đong trôi nổi không biết đi về đâu cuối cùng cô bị đem ra chợ bán như một món hàng.Không ngờ rằng anh chàng ngày xưa mà cô yêu thương đã gặp mua cô với cái giá chỉ bằng một cuộn dong.

Hai người nhận ra nhau và không lỡ hẹn rằng: “ không lấy được nhau mùa hạ, sẽ lấy nhau mùa đông. Không lấy nhau thời trẻ, ta sẽ lấy nhau khi góa mụa về già” họ đã sống bên nhau hạnh phúc tới già.Quả là một kết thúc có hậu khiến người đọc phải nghẹn ngào xúc động.

3. Đoạn trích Lời tiễn dặn

Lời tiễn dặn là một đoạn trích miêu tả tâm trạng đau buồn của Anh chàng ngậm ngùi tiễn người mình yêu thương về nhà chồng. Nỗi đau càng tăng thêm khi chính anh lại chứng kiến cảnh cô bị nhà chồng hắt hủi và đánh đập. Trái tim Anh như vỡ ra từng mảnh khi chính mình không làm gì được.

II. Luyện kĩ năng

1. Tâm trạng của Anh trên đường tiễn dặn.

– Nỗi đau không thể tả hết khi đi trên đoạn đường tiễn cô gái về nhà chồng. Anh đau xót khi gọi tên Chị “người đẹp anh yêu” tình yêu mà Anh dành cho Chị luôn nồng cháy, thắm thiết như ngọn lửa không bao giờ tắt. Tình cảm, tình yêu ấy tuy đẹp tuy rất mãnh liệt nhưng không thể phủ nhận được hiện thực rằng Chị đang “ cất bước theo chồng” (thậm chí đã có con với chồng).

– Trên đường tiễn đưa người yêu đi về nhà chồng Anh trái tim anh như vỡ ra từng mảnh, Anh làm mọi cách để kéo dài thời gian ở bên Chị. Không chỉ vậy Anh còn dặn dò Chị đôi câu thì mới “ đành lòng” cất bước quảnh mặt ra đi. Anh muốn “ ủ lấy hương người “ cho mai sau “ khi chết” vẫn còn vấn vương mùi hương của người thương. Từng bước chân, từng bước chân Anh bước như nặng trĩu lòng, tay nâng niu con của Chị như nâng niu che chở với chính con của mình vậy. Qua hành động ấy ta thấy được tình yêu cao cả đến nhường nào của Anh đối với Chị, bỏ qua tất cả để đến với Chị với tấm lòng trân thành, thật đáng ngợi ca.

– Cả đoạn thơ như bộc bạch hết nỗi lòng của Anh luôn u buồn, dằn vặt, đau khổ. Những câu thơ như cứ kéo dài kéo dài tâm trạng ấy của Anh hơn.Nhưng được coi như một sự phá cách đột ngột ở hai câu thơ cuối muốn khẳng định cái ý trí của Anh trỗi dậy, không cam chịu sự sắp đặt, quyết tâm đoàn tụ và sống bên Chị đến trọn đời, trọn kiếp.

2. Tâm trạng của Chị lúc bước chân về nhà chồng.

Trong đoạn trích không diễn tả tâm trạng của Chị nhiều vì đây là đoạn thơ lời của Anh nhưng qua việc thể hiện nội tâm, hành động của Anh thì ta cũng nhận ra được nỗi niềm của Chị như thế nào.Bị ép lấy chồng nỗi oan ức, tủi cực biết đến nhường nào, Chị ngậm đắng nuốt cay bước đi nhưng bước chân Chị cứ cố níu kéo cho dài thêm mong chờ Anh, được gặp Anh. Chị “ còn ngoảnh lại” mắt còn “ ngoái trông anh” mỗi bước chân như chiếc kim đâm càng sâu vào trái tim Chị. Người đọc hẳn không khỏi xúc động sót thương cho một cuộc tình đẹp phải chia lìa, chính xã hội ấy cũng đã tiếp tay xây nên bờ vực thẳm giữa hai con người ấy.

3. Tâm trạng của Anh lúc ở nhà chồng của Chị

Đoạn trích này đã lược đi đoạn mà Chị bị chồng đánh ngã lăn ra miệng cối gạo, bên “ máng lợn vầy”. Tuy chị đã lấy chồng nhưng Anh không ngừng quan tâm lo lắng cho Chị, vẫn dõi theo Chị từng bước chân, vẫn là người luôn bên Chị. Hành động đỡ Chị dậy, phủi áo, chải tóc cho Chị, làm ống nứa đựng thuốc cho Chị “ uống khỏi đau”.

Tất cả nói lên tình yêu mãnh liệt mà Anh luôn dành cho Chị. Chính việc Anh chứng kiến được người mình thương yêu bị đánh đập phải chịu tủi cực như vậy đã đánh thức tỉnh ý trí Anh phải cứu, quyết tâm đoàn tụ với Chị qua câu thơ “ Tơ rối đôi ta cùng gỡ”. Đó cũng chính là mục đích giúp anh sống tiếp không ngã gục trước hoàn cảnh.

4. Đoạn trích sử dụng nhiều câu thơ có sự trùng điệp từ, kiểu câu nhứ:

– Vừa đi vừa ngoảnh lại
Vừa đi vừa ngoái trông…
– Chết ba năm hình con treo đó
Chết thành sông vục nước uống mát lòng

Chết thành hồn, chung một mái song song.
– Yêu nhau , yêu trọn đời gỗ cứng
Yêu nhau, yêu trọn kiếp đến già…

Qua đoạn trích này tác giả dân gian muốn nhấn mạnh sự thủy chung son sắt trong tình yêu. Đồng thời cũng muốn nói lên sức mạnh của một tình yêu đúng nghĩa, tình yêu trân thành sẽ vượt qua mọi khó khan thử thách để đến được với nhau. Bằng cách sử dụng nhiều câu thơ với những hình ảnh so sánh tương đồng, dung lối ẩn dụ đặ sắc hay một loạt những câu có cấu trúc cú pháp chung… Tất cả làm nên thành công về cách diễn đạt thật xúc động của những con người sống bằng niềm tin, ý trí mãnh liệt đạt đến một cái đích tốt đẹp.

Chuyên mục
Soạn văn 10

Soạn bài Tam đại con gà văn học lớp 10

I. Tìm hiểu chung về truyện cười

1. Khái niệm truyện cười

Truyện cười là một lĩnh vực truyện kể dân gian rộng lớn có yếu tố gây cười. Hình thức truyện cười được gọi bằng nhiều danh từ khác nhau như: truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện trạng, giai thoại hài hước…

Qua đó tạo được những tiếng cười mang tính giải trí đồng thời cũng phản ánh một cách nhẹ nhàng những thói hư tật xấu của con người và cũng nhằm đả kích những cái xấu vạch trần những điều không hay trong giai cấp thống trị lãng đạo.

2. Phân loại

– Truyện khôi hài

VD: Ai nuôi tôi,…

– Truyện trào phúng

VD: Giàn lí đổ, Quan huyện thanh liêm…

II. Truyện Tam đại con gà

1. Thể loại: Tam đại con là thuộc về truyện cười trào phúng và là truyện cười trào phúng bạn

2. Bố cục

– Mở truyện: Câu đầu – giới thiệu mâu thuẫn trái tự nhiên

– Thân truyện: Tiếp đến – “ Tam đại con gà nghĩa là làm sao?” và các tình huống mâu thuẫn gây cười.

– Kết truyện: Câu cuối – Lật tẩy bản chất dốt nát mà lại cố giấu dốt của thầy đồ, bật lên tiếng cười.

3. Nội dung

a. Mâu thuẫn trái tự nhiên ở nhân vật thầy đồ.

– Mở đầu câu truyện: Giới thiệu nhân vật thầy đồ dốt nát nhưng lại cố tỏ ra khoe khoang như mình là người văn hay chữ tốt. Đó là mâu thuẫn giữa dốt nhưng lại khoe khoang

+ Dốt tới mức một chữ tối thiểu trong sách cũng không biết đọc biết viết.

+ Dốt nhưng lại tự cho mình là một người hiểu rộng tài cao, tự cho mình là giỏi.

+ Dốt lại khi biết mình dốt nhưng lại cố tình dấu đi cái dốt ấy để che mắt mọi người.

– Mâu thuẫn tự nhiên ở đây đó là đã dốt rồi lại giấu dốt, tìm đủ mọi cách để che đậy cái sự dốt của mình, càng đậy rồi cái bản chất dốt nát lại càng bị lộ tẩy. Các tình huống được thể hiện đó là:

+ Tình huống 1: Gặp chữ “ kê” khi học trò hỏi gấp thầy không biết chữ đấy là chữ gì liền đoán bừa một phen “ dủ dỉ là con dù dì”. Sau đó còn dặn học trò khẽ khẽ kẻo người khác nghe thấy biết cái sai của mình. Không chỉ vậy thầy đồ lại còn bầy trò cúng thổ công xem đúng hay sai, xem cho chắc chắn, rồi lại cho mình là đúng còn bắt học trò đọc to .Qua đó không chỉ nói lên cái dốt nát của một thầy đồ “lởm” mà còn nói lên việc thầy đồ đã dốt lại còn mê tín.Nhân dân còn chê cười cái dốt của thổ công.

+ Cách xử lí ở đây là nhờ đến thổ địa, nhưng là dốt nên mê tín để giúp che giấu sự dốt của mình.

=>đã bật lên tiếng cười

+ Tình huống 2: Khi bố của học trò hỏi thì vẫn cái việc che giấu dốt của mình, thầy đồ vẫn biện đủ lí do, lí sự chống chế, giải thích theo cái lí sự cùn của mình. Thầy còn nghĩ “ Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa “ . Biết được và tự nhận thức được cái dốt của mình

+ Cách xử lý của thầy đồ luôn giải thích vòng vo, thiếu logic, tự lật tẩy bản chất dốt của chính mình.

=> Tiếng cười ở đây đã bật lên giòn giã hơn.

b. Ý nghĩa phê phán của truyện.

Qua tiếng cười này muốn ngầm phê phán cái thói dấu dốt của một bộ phận nhân dân ngày xưa, không chịu học hỏi lại còn tìm đủ cách để che đi cái dốt thì dốt ngày lại càng dốt thêm.

Ngoài ra qua đó còn muốn khuyên răn một bộ phận được đi học nên học cẩn thận không phải học để làm cái vỏ bọc sĩ bên ngoài mà tỏng lại trống rỗng.

Chuyên mục
Soạn văn 10

Soan bài nhưng nó phải bằng hai mày văn học lớp 10

I. Tìm hiểu chung về truyện cười

1. Khái niệm truyện cười

Truyện cười là một lĩnh vực truyện kể dân gian rộng lớn có yếu tố gây cười. Hình thức truyện cười được gọi bằng nhiều danh từ khác nhau như: truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện trạng, giai thoại hài hước…Qua đó tạo được những tiếng cười mang tính giải trí đồng thời cũng phản ánh một cách nhẹ nhàng những thói hư tật xấu của con người và cũng nhằm đả kích những cái xấu vạch trần những điều không hay trong giai cấp thống trị lãng đạo.

2. Phân loại

– Truyện khôi hài
VD: Ai nuôi tôi,…
– Truyện trào phúng
VD: Giàn lí đổ, Quan huyện thanh liêm…

II. Truyện Nhưng nó phải bằng hai mày

1. Thể loại: Nhưng nó phải bằng hai mày là truyện cười trào phúng thù.

2. Nội dung

a.  Tình huống truyện

– Truyện trước hết giới thiệu về tên lý trưởng ấy nổi tiếng là một người “ xử kiện giỏi”. Hai bên trong vụ xử kiện này là Ngô và Cải do đánh nhau nên đã lôi nhau ra lên quan bày kiện cáo. Do ai cũng lo lắng sợ đối phương thắng kiện, sợ mình chịu thiệt nên lần lượt lên đút lót cho lý trưởng. Cải thì đã nhanh chân đưa thầy lý năm đồng.Nhưng đến lượt Ngô biếu thêm biện chè là cùng với mười đồng.
– Truyện miêu tả thói tham những rất ngang nhiên của lý trưởng – bọn đứng lên đầu dân đàn áp họ, không coi dân chúng là ocn người biến chính nhân dân trở thành nhân vật chính trong tấn bi hài về việc kiện tụng.

b. Trước khi xử kiện

– Thầy lí đã nhận đút lót của cả Ngô và Cải, phải suy nghĩ và xem xét xử thế nào để che dấu đi được vụ đút lót của mình.
– Người xung quanh không biết thầy lí sẽ xử kiện như thế nào?

c. Sau khi xử kiện

Vụ xử kiện rất nhanh chóng kết quả là Ngô thắng Cải thua.
– Ngô đứng im lặng khi được xử thắng.
– Cải khóc lóc van xin đòi quan xử lại.

d. Mối quan hệ giữa lí trưởng và Cải qua cử chỉ, hành động và lời nói.

– Quan hệ xã hội pháp lí:
+ Lí trưởng – là người đại diện cho công lí, nắm quyền hành cao nhất trong vụ xử kiện này, có mọi quyền quyết định, ông lại còn nổi tiếng là người xử kiện giỏi.
+ Cải – người nông dân lao động bình thưởng, do muốn thắng kiện nên đã đút lót cho quan trên.
– Hành động và cử chỉ:
+ Cải: Vội xòe năm ngon tay, ngẩn mặt lên nhìn thầy lí ( trong tình thế bị động)
+ Lí trưởng: Cũng xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay phải ( Tình thế chủ động).
– Lời nói:
+ Cải là người đi đút lót lên lời nói “mật” không muốn để lộ ra ngoài.
+ Lí trưởng: thay mặt cho công lí để xử kiện nên ngôn ngữ của thầy là ngôn ngữ công khai trước bàn dân thiên hạ, không sợ không ngại ai.

3. Giá trị tố cáo của truyện.

Công lí ở đời đáng lẽ phải dựa trên sự thật, lẽ phải để phán xét một cách công minh. Lí trưởng ở đây lại là một con người đại diện cho chính nghĩa cho công lí, là một người đáng lẽ phải lo cho dân chúng, vì dân chúng. Trái lại ở đây, lí trưởng đã bóp méo đi sự thật mà biến đồng tiền che mắt, vì tiền mà biến công lí đi sai lệch, ông coi công lí được đo bằng tiền.Tiền quyết định công lí, tiền nhiều thì lẽ phải nhiều mà tiền ít thì lẽ phải sẽ ít.
Truyện phê phán lối tham nhũng của bọn quan lại ngày xưa, ảnh hưởng tới đời sống nhân dân.Chính lối xấu của bọn tham quan đã bóp méo đi sự thật, và không coi công lý ra gì.

4. Nghệ thuật gây cười

Tác giả dân gian đã sử dụng thành công lối chơi chữ rất độc đáo: “ phải là phải bằng hai”. Ngay trong truyện ta có thể thấy rằng cái “ phải” của thầy lí được kết hợp hài hòa giữa tính chất và số lượng. Đó là số tiền hối lộ mà Cải và Ngô đã đưa cho thầy để xử kiện.Nếu như chỉ năm đồng của Cải và mười đồng cùng biện chè lá của Ngô thì ta cũng suy đoán ngay được lẽ “phải” nhiều sẽ về ai và tất yếu ai sẽ là người thắng kiện. Ai tiền nhiều sẽ có công lí nhiều và lẽ phải nhiều, đó là công lí do thầy lí trưởng tự đặt ra cho mình.

5. Đánh giá về nhân vật Cải và Ngô

Cải và Ngô vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm. Chính trong chính vụ kiện này do bản than Cải và Ngô đã tự đút lót cho thầy lí, hành vi tiêu cực ấy đã hủy hoại chính bản thân mình và dần dần hủy hoại đi xã hội. Trái lại Cải và Ngô cũng là nạn nhân cho quan lại dung đồng tiền để làm giàu cho lối sa đọa, quan triều của một xã hội phong kiến thối nát. Trong hoàn cảnh này thì Cải và Ngô vừa đáng thương lại vừa đáng trách.

Chuyên mục
Soạn văn 10

Soạn bài Tổng Quan Văn Học Việt Nam ngữ văn lớp 10

1.    Các bộ phận hợp thành của văn học Việt Nam

+ Có 2 bộ phận hợp thành văn học việt nam: đó là văn học dân gian và văn học viết:

–    Văn học dân gian: là sản phẩm của cả một tập thể, được lưu truyền theo hình thức truyền miệng, có giá trị to lớn trong đời sống và sản xuất, xưa nay văn học dân gian vẫn có giá trị rất to lớn trong đời sống.

–    Văn học viết: khác văn học dân gian ở chỗ được lưu truyền qua sách vở, nhưng văn học viết là sản phẩm của một cá nhân, có tên tuổi tác giả cụ thể, và văn học viết đã có những thành tựu rất to lớn cho nền văn học việt nam.

2.    Các bộ phận hợp thành của văn học việt nam

–    Lịch sử văn học từ xưa đến nay trải qua hai thời kì to lớn đó là:  thời kì trung đại và thời kì hiện đại:

+ Trung đại: là các tác phẩm viết bằng chữ hán, do những người đi trước ví dụ như Nguyễn Trãi, Trần Quốc Tuấn hay Lý Thường Kiệt, những tác phẩm trung đại đến ngày nay vẫn có những giá trị rất to lớn ngay cả về nội dung và hình thức.

+ Hiện đại đó là các tác phẩm có sự kế thừa những tinh hoa văn hóa của nhân loại có sự giao lưu và tiếp xúc văn hóa, những tác phẩm hiện đại cũng có những thành tựu rất đáng kể, lối viết của văn học hiên đại thoáng hơn của văn học trung đại nó không theo một khuôn mẫu hay một quy luật nhất định.

3. Văn học việt nam thể hiện tư tưởng tình cảm, quan điểm chính trị văn hóa đạo đức, thẩm mĩ của con người Việt Nam trong mối quan hệ đa chiều: quan hệ với thế giới tự nhiên, với quốc gia dân tộc, quan hệ xã hội và ý thức bản thân.

+ Văn học Việt Nam thể hiện tư tưởng tình cảm: có rất nhiều những tác phẩm có giá trị thể hiện tư tưởng tình cảm sâu sắc, giá trị của một tác phẩm văn học được thể hiện ở tư tưởng nhân sinh của tác phẩm, qua tác phẩm nó để lại bài học gì cho người đọc.
+Văn học Việt Nam thể hiện quan điểm chính trị đạo đức: trong thời kì văn học trung đại các tác gia lớn đã có rất nhiều những quan điểm chính trị đạo đức thể hiện trong tác phẩm của mình ví dụ như Nguyễn Trãi đã thể hiện quan điểm của mình trong bài Côn Sơn Ca, Khổng Tử đã đề cập về vấn đề đạo đức trong tác phẩm của mình, đó đều là những thành tựu to lớn góp phần vào nền văn học việt nam.
+ Văn học thể hiện quan điểm thẩm mĩ: mỗi tác giả đều có cái nhìn riêng về sự vật của mình, vì vậy thẩm mỹ nghệ thuật trong một tác phẩm cũng có phần rất khác nhau, do có cái nhìn đa chiều về tác phẩm của mình, xét theo phương diện thẩm mĩ mỗi tác phẩm là một thẩm mĩ nghệ thuật do cái nhìn khách quan của tác giả tạo nên.
+ Văn học thể hiện mối quan hệ với thiên nhiên : văn học có mối quan hệ với thiên nhiên bởi các thi sĩ xưa thường mượn thiên nhiên để làm người bạn tri kỉ ví dụ trong thơ Hồ Chí Minh “ thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp mây gió trăng hóa tuyết núi sông”…thiên nhiên là đề tài rộng lớn trong sáng tác của tác giả.
+Thể hiện mối quan hệ với tổ quốc: văn học được viết ra nhằm phục vụ cho tổ quốc thể hiện cho bề dầy của tổ quốc nhiều tác phẩm được viết ra để chống thực dân đế quốc xâm lược, văn học là cuộc đời mỗi tấm gương trong văn học đều góp công vào xây dựng tổ quốc lớn lao.
+Văn học thể hiện ý thức cá nhân: mỗi cá nhân đều là một phần tử xây dựng vào việc góp phần làm cho đất nước tươi đẹp và giàu mạnh hơn, mỗi cá nhân đều phải có ý thức xây dựng và giữ gìn nền văn học nước nhà, mỗi cá nhân là một gương sáng cho nền văn học hiện đại, nó phản ánh được sâu sắc phong cách sáng tác cũng như con người của tác giả.
+ Văn học phản ánh mối quan hệ trong xã hội: mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội đều là đề tài nghiên cứu và sáng tác trong văn học, văn học bao quát toàn bộ cuộc sống của mọi người trong các mối quan hệ xã hội, nói cách khác văn học là cuộc đời nó phán ánh những tấm gương hay những mảnh đời những số phận con người trong xã hội.

Chuyên mục
Soạn văn 10

Soạn bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ văn 10

I.Khái niệm hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ.

– Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động giao tiếp giữa con người với con người trong xã hội nhằm trao đổi thông tin kinh nghiệm dùng ngôn ngữ văn học để có thể giao tiếp và trao đổi tâm tư tình cảm, con người có thể sử dụng ngôn ngữ văn học hoặc ngôn ngữ đời sống để có thể giao tiếp trao đổi với nhau.

II. Quá trình của hoạt động giao tiếp.

– Giao tiếp là một quá trình thể hiện sự tương tác giữa người nói và người nghe, trong đó người nói sẽ cũng cấp thông tin và người nghe sẽ là người tiếp nhận thông tin và phản hồi lại thông tin.

– Chia làm 2 quá trình là: quá trình tạo lập và quá trình tiếp nhận.

+ Quá trình tạo lập: là thông tin mà người nói muốn thể hiện cho người nghe, thông qua ngôn ngữ để diễn đạt và muốn người nghe tiếp nhận thông tin của mình.

+Quá trình tiếp nhận: là quá trình tiếp nhận thông tin của người nghe, đây là quá trình lĩnh hội thông tin mà người nói đã thực hiện.

III. Các nhân tố trong hoạt động giao tiếp

Có rất nhiều những nhân tố ảnh hưởng tới giao tiếp:
+ Nội dung giao tiếp: đó là thông tin mà người nói muốn cung cấp cho người nghe, đây là những  nội dung cơ bản trong hoạt hoạt động giao tiếp.
+Mục đích giao tiếp: người nói cung cấp cho người nghe những thông ti đó với mục đích gì, đây là yêu cầu cơ bản của một cuộc giao tiếp.
+Nhân vật giao tiếp: nghĩa là đây là đối tượng giao tiếp, nhân vật cụ thể trong giao tiếp đó là người nói và người nghe.
Hoàn cảnh giao tiếp: người nói và người nghe giao tiếp trong hoàn cảnh nào, hoàn cảnh đó có ảnh hưởng như thế nào tới nội dung và hiệu quả của cuộc giao tiếp.

B . Bài tập hoạt động giao tiếp

1. Hoạt động giao tiếp ở đây đó là cuộc đối thoại giữa hai nhân vật là vua nhân tông và các bô lão, đây là một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ người nói và người nghe, nhằm trao đổi thông tin trong hoàn cảnh triều chính, nhằm trao đổi và gây dựng đất nước tốt đẹp hơn, mục đích ở đây là cho đất nước, nhân vật giao tiếp là vua nhân tông và các bô lão…

Trong cuộc giao tiếp có người nói và người nghe khi người nói nói thì người nghe sẽ nghe và tiếp nhận thông tin, người nói sẽ trao đổi tình cảm tư tưởng tình cảm của mình qua nội dung giao tiếp và quá trình tiếp nhận thông tin.

+ Hoàn cảnh giao tiếp diễn ra ở điện diên hồng để bày tỏ quan điểm để chống lại quân nguyên mông, đây là một cuộc giao tiếp nhằm đưa ra giải pháp chống lại kẻ thù xâm lược và kẻ thù. Trong hội nghị các bô lão cũng như quan trong triều sẽ đưa ra ý kiến quan diểm để cùng đóng góp xây dựng biện pháp đưa đất nước thoát khỏi giặc ngoại xâm.

+ Mục đích giao tiếp: bàn bạc để đối phó với kẻ thù xâm lược.

Kết quả của cuộc giao tiếp nhằm cho người đọc tiếp nhận những thông tin cần thiết cho cuộc bàn bạc chống kẻ thù xâm lược.

Nội dung của cuộc giao tiếp trên là những biện pháp để giúp cho đất nước thoát khỏi sự xâm lược của kẻ thù, những biện pháp đó giúp cho đất nước thoát khỏi an nguy.

Chuyên mục
Soạn văn 10

Soạn bài Khái Quát văn học dân gian việt nam văn lớp 10

1. Khái niệm văn học dân gian

– Văn học dân gian là văn học truyền miệng đây là kết quả hay là tác phẩm của cả một tập thể lớn, được lưu truyền trong dân gian theo phương thức truyền miệng, thể loại văn học dân gian đuợc lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, nó được sử dụng phổ biến để làm kinh nghiệm trong sản xuất cũng như đời sống.

2. Các đặc trưng cơ bản của văn học dân gian

– Văn học dân gian là văn bản của cả một tập thể lớn:

+ Từ xưa văn học đã là một đề tài muôn thủa cho tất cả mọi người, trong xã hội cũ khi tăng gia sản xuất, mọi người thường có những câu ca hay những câu chuyện hay kể cho cả một tập thể nghe khi còn lao động tập thể và hoạt động sản xuất đã có những câu hò hay những điệu nhạc reo vang, nó trở thành những tác phẩm vẻ vang trong thời kì lịch sử .

-Văn học dân gian được lưu truyền theo phương thức truyền miệng:

+ Những tác phẩm hay đều được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó được tiếp nối trong xã hội và được lưu truyền rộng rãi những tác phẩm dễ nghe, dễ thuộc và đi sâu vào lòng người.

-Văn học dân gian sáng tác ra đều nhằm phục vụ cho việc tăng gia sản xuất và nhu cầu đời sống của con người:

+ Từ xa xưa ông cha ta đã có những câu ca dao, và nhờ quá trình sáng tác tập thể mà quá trình sản xuất đã được tăng gia và không ngừng được nâng lên, những câu ca và những điệu hò đã làm xua tan đi những mệt mỏi của người dân trong lao động sản xuất.

3. Hệ thống thể loại của văn học dân gian.

– Văn học dân gian là một hệ thống thể loại phong phú, bao gồm nhiều thể loại như: truyện ngắn, ca do hò, vè, thần thoại sử thi truyền thuyết, ngụ ngôn….

Ví dụ như : ca dao than thân tình nghĩa , tục ngữ lao động sản xuất …

Nhiều thể loại phong phú do vậy văn học dân gian đóng một vai trò rất quan trọng trong thể loại văn học ở Việt Nam.

4. Giá trị cơ bản của văn học dân gian

– Văn học dân gian thể hiện quan điểm và nhận thức của nhân dân trong quá trình lao động và sản xuất, qua đó để lại giá trị vô cùng to lớn về kinh nghiệm nhận thức cũng như những giá trị về mặt văn hóa cho cả một dân tộc, những nhận thức tư tưởng của nhân dân được sáng tạo qua những sáng tác tập thể nó có tác dụng thúc đẩy sự nhận thức cũng như mức độ cảm nhận văn học của mọi người,ở đây mỗi người có thể sử dụng những vốn hiểu biết và những kinh nghiệm tích lũy của cá nhân để tạo nên những bài ca dao, tục ngữ có giá trị cho nhiều thế hệ hôm nay và mai sau.
VD: cơn đàng đông vừa trông vừa chạy cơn đằng nam vừa làm vừa chơi…

-Văn học dân gian có giá trị giáo dục đạo đức của con người, ví dụ đạo lý ở hiền gặp lành ác giả ác báo… qua truyện tấm cám hay Thạch Sanh, văn học khuyên con người tới việc tu dưỡng đạo đức tới việc làm điều tốt, nó vừa có ý nghĩa giáo dục và có ý nghĩa thẩm mĩ. Nhắc tới văn học là nhắc tới cái đẹp nên văn học luôn phản ảnh và giáo dục nên những cái đẹp những cái trong sáng thuần khiết.

-Văn học dân gian có giá trị to lớn về mặt thẩm mĩ: những tác phẩm được sáng tác đều được thẩm thấu qua nghệ thuật của tác giả và qua quá trình sáng tác và để lại những giá trị thẩm mĩ to lớn, ví dụ những sáng tác về quê hương đất nước, văn học mang giá trị thẩm mĩ rất lớn lao, những sáng tác đó chủ yếu dựa trên thiên nhiên, kinh nghiệm của con người để sáng tác nên những câu ca dao những tác phẩm có giá trị để lại rất lớn lao cho nền văn học Việt Nam.

Chuyên mục
Soạn văn 10

Soạn bài Văn bản lớp 10

1) Văn bản là gì?

–  Văn bản là một sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ được ghi chép lại gồm nhiều câu, trong đó nó chứa đựng yếu tố nội dung và hình thức.Văn bản không chỉ là một tác phẩm dài mà chỉ cần nó chứa mục đích và ý nghĩa trong đó.

2) Các đặc điểm của văn bản

– Một văn bản thường có câu mở đầu, nó có một chủ đề xuyên suốt trong một văn bản, nội dung phải hướng tới mục đích và mục đích phải phục vụ cho nội dung, nghệ thuật trong văn bản làm cho nội dung của một văn bản hài hòa và hấp dẫn.
-Mỗi văn bản đều có một giá trị và có một ý nghĩa nhất định, cái kết cuối cùng của một văn bản tạo ra đó là để lại cho người đọc điều gì, nó có in dấu trong lòng người đọc hay không?
– Một văn bản phải có sự lien kết mạch lạc giữ các câu và với các đoạn với nhau, phải có một traath tự logic cả về hình thức và nội dung.
– Mỗi một văn bản đều có câu khai triển hay còn gọi là câu mở đầu và câu kết.

3) Các văn bản thường gặp

– Dựa vào mục đích và chức năng giao tiếp ta có thể chia văn bản thành các phần sau:
+ Văn bản thuộc phong cách sinh hoạt( ký sự,…)
+ Văn bản hành chính( đơn từ, các giấy tờ liên quan tới văn bản hành chính đều theo một khuôn mẫu và văn bản nhất định)
+ Văn bản khoa học( sách giáo khoa, giáo trình học liệu môn học)
+Văn bản nghệ thuật (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch…)

Bài tập .

1. Văn bản 1,2,3 tác giả đã sử dụng ngôn ngữ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhằm biểu lộ tâm tư tình cảm của tác giả tới người đọc và người nghe. Một văn bản có thể có nhiều đoạn nhiều câu ghép lại với nhau.Quan trọng của một văn bản đó là nội dung nó thể hiện điều gì và có hướng giải quyết về vấn đề đó như thế nào, bài thường có nội dung cần biểu đạt và cái tiếp nhận thông tin biểu đạt.

2. Văn bản trên nói về kinh nghiệm cuộc sống , nhân dân đã tạo nên những tác phẩm đó nhờ kinh nghiệm tích lũy của bản thân, 2 nói về thân phận của người phụ nữ, những hình ảnh để nói về người phụ nữ, văn bản đã nói rõ những hình ảnh và những chi tiết để miêu tả về người phụ nữ, văn bản 3 nói về chính trị.

3. Mỗi văn bản đều phải tương xứng với nội dung trong bài, mỗi câu mỗi đoạn đều có những khai triển nhất định và nó thu hút người đọc người nghe bởi logic và sự nhất quán. Mỗi đoạn cần phải kết nối với đoạn tiếp theo theo một trình tự nhất định, cần có sự liên kết bởi cần có mạch nối các câu các đoạn với nhau nhằm tạo nên một văn bản hoàn chỉnh, mỗi văn bản cần phải có nội dung và hình thức trong đó hình thức biểu hiện nội dung, nội dung nhờ có hình thức mà làm nổi bật ý nghĩa của văn bản đó lên.

Chuyên mục
Soạn văn 10

Soạn bài Chiến thắng Mtao Mxây ngữ văn lớp 10

1) Sử thi là gì ?

-Sử thi là một thể loại văn học lớn có giá trị sử thi hào hùng của một dân tộc, sử thi chủ yếu viết về đề tài lịch sử có giá trị sâu sắc hay những câu chuyện sử thi, sử thi thường  mang những yếu tố dân tộc sâu sắc, trong mỗi sử thi đều nhấn mạnh yếu tố dân tộc hay những đặc săc của một nền dân tộc, ca ngợi anh hùng ca….
Có hai loại sử thi:
+ Sử thi thần thoại và sử thi hy lạp

2) Tóm tắt tác phẩm

Đăm săn về làm chồng của Hơ Nhi và Hơ Nhị, từ đó anh trở thành một tù trưởng giàu có và có tiếng, khi các tù trưởng khác tới cướp vợ thì anh ta đã chiến đấu anh dũng để cứu vợ mình, trải qua những trận đấu kiếm khác nhau anh ta đã dành được chiến thắng, và chiến thắng đó đã làm anh dạng rỡ trước dân làng và cả một dòng họ, nhưng việc chặt cây than đã khiến cho hai vợ của anh ta chết, anh ta đã tìm cách lên nhờ trời cứ vợ mình nhưng không được, và anh ta lại có ý định hỏi thần mặt trời làm vợ và bị từ chối trên đường trở về anh ta đã chết và đầu thai thành con ruổi vào chị gái và sinh ra Đăm săn luyến tiếp.

3) Vị trí

– Đoạn trích này nói về cuộc chiến tranh giữa Đăm săn và MtaoMxay, đây là sự khiêu chiến giữa các tù trưởng.

II) Tác phẩm .

1. Cuộc chiến giữa MTao Mxây và Đăm Săn

– Vì muốn cứu vợ của mình Đăm Săn đã chiến đấu với MTao Mxây, ban đầu Mtao Mxây tỏ ra kiêu ngạo nhưng cuối cùng cũng phải khiêm nhường trước Đăm Săn, những cuộc chiến đấu diễn ra rất sôi nổi.

+ Hiệp 1: do MTao MXây múa kiếm trước, những động tác được so sánh như những quả mướp khô nhưng tính cách kiêu ngạo của hắn thì không hề giảm, nhìn vào những hành động đó của MTao Mxây, Đăm săn vẫn không hề bị ảnh hưởng mà vẫn giữ thái độ bình tĩnh, và chiến đấu trước sự kiêu ngạo của hắn, thái đọ bình tĩnh và lý trí đã giúp cho Đăm Săn chiến thắng là đăm vào MTao Mxây nhưng lại không thủng.

+ Hiệp 2: Đăm Săn đã nén cái chày tròn vào trúng tai của MTao Mxây, lúc này MTao Mxây da diết van xin được sống, nhưng do tội ác của hắn quá lớn mà Đăm Săn đã chặt đầu hắn đem bêu ra ngoài đường.

2. Những câu nói và hành động của đông đảo nô lệ đối với cuộc chiến của hai tù trưởng để nói ra thái độ tình cảm của cộng đồng Êđê đối với mục đích của cuộc chiến nói chung, nói với người anh hùng sử thi nói riêng.

– Những tôi tớ của Đăm Săn: những người anh hùng, chiến thắng của Đăm Săn làm tăng thêm sức mạnh của cả một cộng đồng to lớn, ca ngợi anh hùng sử thi của dân tộc, mọi người thì phấn khích khi sự chiến thắng của Đăm Săn trở về, qua đây cũng muốn nói lên một điều rằng chính nghĩa luôn thắng phi nghĩa.

– Những tôi tớ của M tao Mxây khi thấy tù trưởng của mình bị giết đầu bị bêu ra ngoài đường thì chúng lại quay sang cầu khẩn Đăm Săn và đi theo Đăm Săn, lúc đó tôi tớ của Đăm Săn như một bày ong, hòa nhịp vào niềm vui chiến thắng của Đăm Săn trở về.Những người khác cũng vô cũng vui mừng và chúc mừng đăm Săn những người tù trưởng khác cũng đến và ăn mừng cùng Đăm Săn. Niềm vui của một dân tộc đã hòa trộn cùng niềm vui của cả một dân tộc, chiến thắng của Đăm Săn đã làm rạng danh sức mạnh của cả một dân tộc, chiến thắng đó được mọi người ủng hộ và đồng tình qua đó làm tăng thêm sức mạnh của Đăm Săn và niềm tự hào tự tôn dân tộc.

3. Thái độ và cách nhìn nhận của tác giả về ý nghĩa thời đại của các thời chiến tranh bộ tộc và tầm vóc lịch sử của người anh hùng trong sự phát triển của cộng đồng?

– Trong cuộc chiến tranh bộ tộc đã nêu ra tư tưởng chiến tranh chính nghĩa luôn chiến thắng phi nghĩa, tầm vóc lịch sử và ý nghĩa sử thi của tác phẩm này cũng được thể hiện khá sâu sắc, bài được chia thành hai hướng chính đó là cuộc chiến đấu giữa MTao Mxây với Đăm Săn, phần hai đó là niềm vui chiến thắng của Đăm Săn khi trở về, Tác giả đã nhìn nhận vấn đề một cách rất sâu sắc qua diễn biến tâm lý của nhân vật trong câu truyện một người hống hách huênh hoang đã bị thất bại và bị giết chết dưới thanh kiếm của người anh hùng dân tộc Đăm Săn, trong thời sử thi xưa những cuộc đấu tranh giữa các tù trưởng là một vấn đề diễn ra rất thường xuyên nhưng câu truyện này lại có một ý nghĩa dân tộc sâu sắc qua đó nó nêu lên sự đoàn kết và những sự ủng hộ phần lớn của tất cả mọi người với người anh hùng sử thi của dân tộc.

– Ý nghĩa thời đại: được thể hiện rất sâu sắc qua đó nó nêu lên tầm vóc lịch sử to lớn của một dân tộc hùng mạnh.

4. Hành động và câu nói của các tù trưởng qua cuộc giao chiến:

Lời nói:

– MTao MXây : Khoan diếng, khoang, để ta xuống. ngươi không được đâm ta khi ta xuống.

– Đăm Săn : sao ta lại phải đâm ngươi khi ngươi đang xuống nhỉ.

Qua đây nói về: tính cách và con người của hai tù trưởng Mtao Mxay là một con người hèn nhát, lo sợ nhưng lại rất huênh hoang, đối với nhân vật đó là anh hùng sử thi Đăm Săn người hùng trong lòng dân tộc là một người có khí phách hiên ngang, anh hùng cương trực.
Hành động:

– MTao MXây: khiên hắn tròn như đầu cú, gươm hắn óng ánh như cầu vòng, trông hắn dữ tợn như một vị thần dáng tần ngần do dự, mỗi bước mỗi đắn đo:

-Đây là những hành động dữ tợn tỏ ra huênh hoang những thực chất tài năng kém cỏi vô dụng.
Đăm Săn: Chàng múa trên cao gió như bão, chàng múa dưới thấp gió như lốc: dáng vóc của Đăm Săn thể hiện lên vẻ oai phong lẫm liệt của người anh hùng sử thi.

Qua những lời nói và hành động trên tác giả đã phác họa sâu sắc tính cách của các nhân vật và cũng là phản ánh đậm nét những tính cách và con người của hai tù trường thông qua cuộc chiến này cũng làm tôn vinh lên vẻ đẹp của người anh hùng Đăm săn.

2. Trong đoạn trích cuối của truyện đó là niềm vui mừng khi đăm săn trở về niềm vui ăn mùng của cả miền dân tộc Ê đê, những tục lệ của dân tộc đã được thể hiện nhằm nói về nền văn hóa của dân tộc Ê đê, ở đây tác giả đã sử dụng rất nhiều những biện pháp so sánh, biện pháp trùng điệp phóng đại … để làm tăng lên vẻ đẹp của người anh hùng dân tộc Đăm Săn, khắc họa tầm vóc lớn lao đẹp đẽ của người anh hùng sử thi.