Chuyên mục
Soạn văn 11

Soạn bài Vào Phủ Chúa Trịnh trích thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác

1. Vài nét về tác giả Lê Hữu Trác

–  Lê Hữu Trác tên hiệu là hải thượng lãn ông, xuất thân trong một gia đình có truyền thống học hành thi đậu cao, ông cũng là một thầy thuốc giỏi.

2. Tác phẩm.

– Đây là quyển cuối cùng trong bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh.

3. Quang cảnh, cách thức sinh hoạt trong phủ chúa.

– Quang cảnh:

+ Khung cảnh trong phủ chúa nhộn nhịp xa hoa, với những tiếng chim hót những cánh hoa, những dãy hành lang quanh co nối tiếp nhau, cảnh vật xung quanh phủ chúa thật xa hoa lộng lẫy, nó mang một vẻ đẹp tran hoàng những cảnh vật ngoài xã hội lại đối lập với cảnh vật trong phủ chúa, bên trong đồ vật trong phủ chúa thì được to son thiếc vàng làm tôn lên vẻ đẹp lộng lẫy,hét sức xa hoa.

Không khí ở phủ chúa thật ngột ngạt, nó khiến cho tác giả bị xiết chặt vào cái sung túc nhưng lại dựa trên sự đau khổ của nhân dân lao động, những khung cảnh đó làm cho tác giả ngột ngạt ông như đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác, ông cảm thấy khó thở và căm phẫn trước sự sa hoa của bọn bạo chúa.

– Cung cách sinh hoạt:

+ Trong phủ chúa Trịnh chỉ có những kinh thánh và những lời cầu khẩn dạ thưa của vua quan và đầy tớ, chúa trịnh là một người sống rất xa hóa trong cách sinh hoạt của hắn luôn có những phi tần luôn trầu trực, và thúc trực quanh hắn, thế tử thì luôn có đến bẩy tám người thầy thuốc tục trực…. một cuộc sống xa hoa ở phủ chúa đã bộc lộ ra một chế độ ăn chơi xa đọa không lo cho cuộc sống của nhân dân .

Người đọc khi đọc xong dường như đều có cảm xúc khi thấy một khung cảnh xa hoa nơi phủ chúa và cả những phong thái sinh hoạt xa hoa, sự xa hoa ở phủ chúa là sự cực khổ của nhân dân, mỗi sự cực khổ của nhân dân là một phần xa hoa sung túc ở phủ chúa, bóc lột sức lao động của nhân dân vào việc ăn chơi trác táng.. một chế độ thật đáng lên án sâu sắc.

+ Cảnh xa hoa tráng lệ ở phủ chúa trịnh khác hẳn và đối lập với cuộc sống đời thường  bên ngoài mỗi chúng ta, nhân dân lúc ấy giờ đang lâm vào nạn đói, sưu thuế tăng cao nộp vào cho triều đình để ăn chơi, mỗi cuộc chơi của phủ chúa là những giọt mồ hôi công sức và cả máu của người dân.

Nơi đây bọn chúng biến thành nơi để xa hoa chơi, những con người ở đây đều biến chất lúc nào cũng chỉ thích ăn chơi rồi bỏ mặc cuộc sống đói khổ của nhân dân ngoài xã hội, người dân đói lăn lóc ra nhưng bên trong này thì ăn chơi chát tang thật đáng lên án cái bọn hại dân bán nước này.

Nghi lễ ở phủ chúa thể hiện một khuôn phép một lối sống của một bậc quyền sang có chúc có quyền và nó đã phản ánh một chế độ độc tài thối nát. Nhưng nghi thức rườm rà, thủ tục làm cho khác ngoài đời nơi đây trở thành nơi ăn chơi nhảy múa của bọn hôn quân bạo chúa. Nó tạo nên một không khí bị ép chặt ngột ngạt, chúng muốn biến nơi đây thành thiên dường để trác tang.

Cái nhìn của tác giả và ngôn ngữ được tác giả thể hiện: những ngôn ngữ mỉa mai, giọng điệu đầy chất châm biếm khi đối diện với khung cảnh đó tác giả dường như choáng ngợp trước quang cảnh nguy nga lộng lẫy ở phủ chúa, đối diện với cuộc sống của nhân dân, không có cơm ăn áo mặc, nhân dân rơi vào lầm than nghèo đói… Lê Hữu Trác là một nhà nho coi thường danh lợi, ông đã lấy cái cá nhân cái cao cả để phản anh một chế độ thối nát xa hoa ăn chơi hưởng lạc.

Người thầy thuốc nhìn thầy cảnh vật ở phủ chúa không phải vì tiền bạc của cải mà chữa bệnh cho thế tử ông đã gạt bỏ đi những định kiến cá nhân để làm tròn trách nhiệm của một vị thầy thuốc, lấy chữa trị cứu người làm nền tảng…qua đó chúng ta cũng đánh giá được phẩm chất cao quý của người thầy thuốc, đã cứu chữa để giúp tính mạng của con người…

Thái độ kê đơn thuốc của tác giả: căn bệnh của thái tử là căn bệnh của người giàu nhưng vì lương y của một vị thày thuốc mà ông đã cứu giúp, ông đã bỏ đi cái hiềm khích cá nhân để cứu sống mạng người, ông không chỉ là một người thầy thuốc giỏi mà ông còn là một người có tấm lòng bao dung nhân hậu.

6. Đặc sắc nghệ thuật được tác giả sử dụng trong bài .

Nghệ thuật: tác giả đã dùng vốn hiểu biết và tài năng của mình để ghi chép lại toàn bộ cuộc sống xa hoa ở phủ chúa, ghi lại những hình ảnh, sự vật đặc biệt quan trọng để qua đó tố cáo chế độ độc tài thối nát, lối kể chuyện sâu sắc của tác giả đã làm cho người đọc hứng thú với diễn biến câu chuyện.

Cả bài là một cuộc sống xa hoa tác giả dã rất thành công trong việc ghi dấu ân đặc biệt bởi những chi tiết rất đặc sắc để lột tả được một cuộc sống xa hoa của phủ chúa, những quan cách và những thủ tục rườm già, mang nặng quyền thế.

Những chi tiết được tác giả miêu tả rất hiện thực qua đó phản ánh một lớp người một tầng lớp thoái chất, phê phán một chế độ tàn ác.

Chuyên mục
Soạn văn 11

Soạn bài Cha tôi trích Đặng Dịch Trai ngôn hành dịch của Đặng Huy Trứ

1. Vài nét về tác giả.

– Đặng Huy Trứ hiệu là Tĩnh Trai và Vọng Tân, sinh ra và lớn lên tại làng Thanh Lương, huyện Hương Điền, Tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 1943 ông đã đỗ đạt và lên làm quan.

2. Tác phẩm.

– Đây là bài nói về tình cảm của người con đối với cha của mình, đây là những tâm sự và nhưng tâm tư tình cảm mà tác giả muốn thể hiện qua bài Cha Tôi.

3. Diễn biến của đoạn trích.

a. Đoạn trích là sâu chuổi các sự kiện và diễn biến tâm trạng của người cha đối với người con:

+ Năm 1943 khi người con trai của ông đỗ trạng nguyên và trở thành quan , ngược lại với những diễn biến thông thương người cha này lại buồn rầu,” dựa vào cây xoài, nước mắt ướt áo như “gặp điều chẳng lành”.

Ông không vui khi người con của mình đỗ đạt, đây là một niềm vui, một niềm hảnh diện cho cả một dòng họ lớn nhưng ông lại không vui vì ông biết lo cho sự an nguy của cả một đất nước, những người có phúc làm quan ông cho rằng đó là những người đẫ đủ chin chắn và biết lo cho phận sự của đất nước, và đây là điều ông lo lắng cho người con của mình, ông là một người cha có tầm nhìn sâu rộng thấu đáo và biết lo cho an nguy sự nghiệp của một quốc gia dân tộc.

+ Diễn biến tiếp theo của câu chuyện khiên cho nhân vật người cha thêm muôn phần lo lắng: “khoa thi hội mùa xuân năm Đinh Mùi nhân tứ tuần đại khánh của đức hiến tổ chương hoàng đế thiệu trị, vua cho mở ân khoa”, nhân vật tôi đó là chính là người con lại tiếp tục đỗ trong kì thi lần này, nỗi lo lắng của người cha ở giai đoạn tiếp theo này lại tăng thêm bởi ông lo cho sự nghiệp của đất nước, ông không nghi ngờ tài năng của con mình mà là do ông chưa tin vào kinh nghiệm đường đời vì lúc đó nhân vật tôi còn rất trẻ.

Khi đã đỗ đạt trong tuổi đời con rất trả ông đã nghi đến hậu quả đó là việc kiêu ngạo và không biết tiếp thu học hỏi để phục vụ cho dân cho nước, người cha này rất lý tưởng ở chỗ không phải vì danh lợi cho con mà muốn cho con hiểu được đạo lý làm người, phải phục vụ cho đát nước chứ không phải vì những cái lợi lộc trước mắt mà đánh mất đi phẩm chất của một con người chân chính…

Sự kiện cuối cùng mà tác giả đề cập đến trong bài đó là: liên tiếp những tin buồn đến với gia đình của ông người anh trai chết và nhân vật tôi đã mắc và một số sai lầm, ông đã để tang cho người anh của mình, qua đó thể hiện tấm lòng thành kính và đức độ của ông, khi người con trai bị đánh hỏng ông coi như không có gì và sau khi lo tang sự cho người anh xong ông đã ân cần và khuyên nhủ người con.

Ông là một người cha có tấm lòng nhân hậu đức độ là một người em biết thành kính người anh của mình, đối với con ông là một người hết mực vì con, ông chỉ ra đạo lý ở trên đời cho người con” đã vào thi đình thì không còn đánh trượt nữa, từ đời Lê đến nay như thế lâu mà nay con lại bị đánh trượt”. Ông đã chỉ ra những sai lầm và ôn tồn chỉ bảo cho con, những lời nói của ông thật thấu tình đạt lý.

2. Qua diễn biến của các sự kiện diễn ra trong tác phẩm: ta thấy được câu trả lời của Đăng Huy Trứ thể hiện sự khiêm tốn đức độ một con người biết nhìn xa trông rộng, hiểu biết sự đời và không hề có tham vọng quyền lợi và những giá trị quyền lợi của triều đình, điều ông muốn ở người con đó là một con người biết sống vì dân vì nước, biết lo và phục vụ cho sự nghiệp của nhân dân.

Khi nhìn thấy những sai lầm của cha ông đã nêu ra sai lầm và đưa cho con hướng giải quyết hợp tình hợp lý đó là những điều đáng làm của một người cha nhưng ông đã đưa ra một chân lý ở đời sau mỗi thất bại mỗi người chúng ta lên đứng dậy và quật cường vươn lên chứ không lên cứ đi theo mãi con đường sai đó, biết đứng dậy từ những sai lầm và trở thành con người có ích là một điều vô cùng đáng quý. Người cha đã dẫn đường chỉ lối cho con, khi làm quan cũng không được huênh hoang mạn phép ảnh hưởng tới lợi ích của nhân dân, có sai thì phải sửa và biết nhận lỗi và thay đổi những sai lầm đó.

Bài đã nêu lên tình cảm của người cha đối với người con một cách sâu sắc, những lời dậy của người cha đã mang nặng ý nghĩa nhân sinh và giáo dục sâu sắc, đây là bài học cho tất cả mỗi chúng ta…Ông là một tấm gương sáng trong việc giáo dục và dậy dỗ cho người con của mình trở thành một người con tốt, một vị quan tốt đối với dân chúng, và là người có ích cho xã hội… Tấm lòng của người con đối với cha là thái độ biết ơn trân trọng những tình cảm đáng quý của người cha đã dành cho người con, một tấm lòng biết ơn sâu sắc, bài này là bộc lộ rõ những điều đó.

Một người cha không chỉ có tấm lòng yêu quý người con mà ông còn là một người biết lo nghĩ cho vận mệnh an nguy của đất nước, ông không chỉ là một người dẫn đường và sửa chữa đường đi cho con khi con mắc phải những sai lầm mà ông còn là một người có tấm lòng yêu nước, luôn mong muốn đất nước sống trong cảnh thái bình nhân dân được ấm lo, cuộc sống nhân dân ổn định.

Đất nước có những vị nhân tài thực thụ lo cho dân cho nước vừa có trí có tài mà vừa phải có đức, ông đã nhấn mạnh rõ phẩm chất của một người giữ trọng trách của đất nước phải là một người biết nghĩ cho dân cho nước không nên vì những lợi danh mà làm tổn hại đến lợi ích của nhân dân.

Chuyên mục
Soạn văn 11

Soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân văn 11

1. Ngôn ngữ là tài sản chung của xã hội

– Ngôn ngữ là phương tiện để con người có thể trao đổi tâm tư tình cảm với nhau, ngôn ngữ không phân biệt đối tượng sử dụng bởi ngôn ngữ là tài sản chung của xã hội.

– Ngôn ngữ bao gồm hệ thống các âm tiết, các đơn vị ngữ âm, các quy tắc chuẩn mực được xác định bằng chữ viết, mỗi cá nhân và thành phần trong xã hội tùy thuộc vào hoàn cảnh và vốn tích lũy ngôn ngữ của mình để có thể sử dụng cho phù hợp và có văn hóa.

– Ngôn ngữ có thể được trau dồi và cái thiện cho phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh giao tiếp, mỗi người tự hiểu biết và nâng cao vốn ngôn ngữ chung của mình qua các tài liệu khác nhau như đi học được tiếp thu trong sách vở, mọi người …

2. Lời nói cá nhân.

– Qua việc sử dụng ngôn ngữ chung và sự tích lũy vốn kiến thức chung của mình qua ngôn ngữ chung thì mỗi cá nhân có thể sử dụng ngôn ngữ đó theo riêng cá nhân của mình, mỗi vùng mỗi cá nhân sẽ có cách giao tiếp khác nhau phù hợp với ngữ cảnh và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể đáp ứng nhu cầu của người nghe và người đọc.

– Trong ngôn ngữ nghệ thuật mỗi tác phẩm lớn đều ghi dấu ấn cá nhân trong đó cái tôi sử dụng ngôn ngữ của cá nhân là hiện lên rất sâu sắc và ý nghĩa, vốn cá nhân đó là do mỗi cá nhân tự tích lũy và sử dụng.

– Lựa chọn ngôn ngữ cá nhân phù hợp cũng là việc sử dụng và trau dồi vốn kiến thức chung rất linh hoạt và phù hợp, mỗi cá nhân có phong cách và cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau giả sử như các nhà văn lớn như Nguyễn Tuân thì giọng văn hùng hồn dữ dội, trong khi Xuân Quỳnh diệu êm, đó là sự khác biệt trong việc sử dụng ngôn ngữ.

Bài tập:

1.Câu tục ngữ học ăn học nói học gói học mở có ý nghĩa:

+ Đây là một câu tục ngữ dăn dạy mỗi chúng ta cần phải học tập và trau dồi vốn kiến thức từ ngữ của mình, trong mỗi hoàn cảnh khác nhau chúng ta phải lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp.
+ Văn hóa giao tiếp là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi lời nói là những văn hóa tối thiểu của một con người vì vậy hãy trau dồi và cải thiện vốn từ ngữ sử dụng ngôn ngữ chung vào ngôn ngữ cá nhân cho phù hợp với nhu cầu giao tiếp.

2. Ý nghĩa của những câu dưới đây:

a. Câu chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe: Đây cũng là câu nói đề cập đến vấn đề giao tiếp và cách sử dụng ngôn ngữ, những người có đạo đức có văn hóa sẽ biết sử dụng những từ ngữ dễ nghe, dễ đi sâu vào lòng người đây là cách nói khuyên người ta nên nói năng dịu dàng thanh lịch.

b) Người thanh nói tiếng cũng thanh chuông kêu khẽ đánh bên vành cũng kêu: câu này đã ca ngợi và nêu gương những người ăn nói lịch sự tế nhị, những người biết cách sử dụng ngôn ngữ và lịch sự trang trọng.

c) Đất tốt cây rườm rà những người thanh lịch nói ra dịu dàng: câu này cũng đề cập đến những người ăn nói lịch sử nhẹ nhàng dễ nghe.Những lời nói được nói ra phải được suy xét cho kĩ, và khi nói phải nói những lời nói nhẹ nhàng dễ nghe, những lời nói đi sâu vào lòng người.

d) Đất tốt trông cây khẳng khiu những người thô tục nói điều phàm phu: Câu này nói về hoàn cảnh của hai đối tượng khác nhau, thứ nhất đề cập tới người có văn hóa, thì sẽ sử dụng được ngôn ngữ nhẹ nhàng lịch sự, 2 là đề cập và chê những người thô tục nói năng thô nỗ.

Những người có học thức, có văn hóa khi phát ngôn thì phải phát ngôn những lời nói dễ nghe, những điều có đạo đức có văn hóa.Còn đối với những người có trình độ văn hóa thì có những lời nói thô tục. Câu này khuyên ngăn chúng ta cần ăn nói lịch sự.

Chuyên mục
Soạn văn 11

Soạn bài Luyện tập phân tích đề và lập dàn ý cho bài văn nghị luận

1. Phân tích đề:

– Từ ý kiến trên, suy nghĩ về bài chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới:

+ Phân tích đề bài:

Ngụ ý mà tác giả đặt nhan đề như vậy bởi: mỗi con người cần phải chuẩn bị đầy đủ tất cả về mọi mặt để trang bị khi bước vào một thể kỉ mới, một thế kỉ văn minh hiện đại, người việt nam cũng rất thông minh và nhạy biến trong rất nhiều những công việc khác nhau nhưng trình độ dân trí của việt nam vẫn còn rất hạn chế.

Bên cạnh những điểm mạnh chúng ta cần phải khắc phục và lắp đầy những khoảng chống về mặt kiến thức cũng như khả năng thực hành áp dụng lý thuyết đó vào thực hành thực tiễn, tác giả thật sáng suốt khi đặt ra nhan đề bài là chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới.

Khi đi phân tích đề chúng ta cần phải sử dụng phương pháp cho phù hợp với việc phân tích đề và tiện lợi:

+ Chứng minh những điều trong phần phân tích đề chúng ta đã đưa ra, lập luận và đưa ra lý lẽ xác thực về vấn đề và nội dung cần giải quyết trong đề bài, lấy ví dụ trong thực tiễn để chưng minh những điều chúng ta nói là đúng và phù hợp với đẫn chứng mà đề bài đã đưa ra.

2. Đề 2: Vấn đề nghị luận ở đây là bài tự tình của Hồ Xuân Hương.

Như đề 1:

Bước 1: Phân tích đề: lý lẽ của bài thơ trên nói về những tâm trạng buồn cô đơn lẽ loi được thể hiện trong bài tự tình II, qua đó tác giả cũng muốn nói về khát khao được hạnh phúc những người phụ nữ xưa.

–    Phương pháp sử dung: Lập lậu cảm nghĩa về những hình ảnh của người phụ nữ xưa liên hệ vào những tài liệu và dẫn chứng đã có trong bài để cảm nghi và phân tích nó một cách sâu sắc, lấy dẫn chứng trực tiếp từ bài viết của Hồ Xuân Hương.

3.Vấn đề nghị luận ở đây là vẻ đẹp của bài thơ câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến:

– Vẻ đẹp của nó được thể hiện qua những hình ảnh rất gần gũi và gắn bó với miền quê Bắc Bộ: Ví dụ ao nước, những lũy tre,..tình yêu quê hương đất nước của tác giả được thể hiện rất sâu sắc và ý nghĩa, khi về ở ẩn tại miền quê Bắc Bộ gần gũi thân thương nơi gắn bó với những lũy tre tác giả đã thả hồi và viết lên chùm thơ thơ nổi tiếng của Nguyễn Khuyến.

– Phương pháp được sử dụng ở đây đó là: liệt kê những hình ảnh gần gũi của thiên nhiên, cảnh vật xung quanh tác giả, dùng cách cảm nghĩa để nêu nên ý nghĩa  sâu sắc mà tác giả đã thể hiện trong bài thơ, tác giả đã dùng cả biện pháp chứng minh so sánh biện pháp nghệ thuật. Phạm vi lấy dẫn chứng là bài thơ Nguyễn Khuyến.

Bài tập:

1.Cảm nghĩ về giá trị hiện thực trong đoạn trích vào phủ chúa trịnh của Lê Hữu Trác.

–    Phân tích đề: Đề bài yêu cầu cảm nghĩ về giá trị hiện thực, những hình ảnh nào được hiện lên trong phủ chúa trịnh những quang cảnh những cách thức sinh hoạt được biểu lộ trong bài vào phủ chúa trịnh qua đó nêu lên giá trị hiện thực của tác phẩm nhằm phê phán điều gì?

Những hình ảnh được hiện lên trong bài đó là:chim ca rộn tiếng trong phủ chúa, những  ghế thì được sơn son thiếc vàng thật lộng lẫy, qua đây ta có thể thấy giá trị hiện thực đó là một cuộc sống xa hoa ở phủ chúa trong khi nhân dân đang đói khổ lầm than.

–    Phương pháp sử dụng ở đây là liệt kê phân tích chỉ giá trị trị hiện thực qua những hình ảnh được hiện lên trong phủ chúa qua đó phê phán một chế độ thối nát và một chế độ sắp suy vong.

–    Dẫn chứng được lấy từ bài vào phủ chúa trịnh của Lê Hữu Trác.

2. Tài năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc của nữ tu sĩ Hồ Xuân Hương qua hai bài thơ Bánh trôi nước và Tự tình II.

–    Phân tích đề: Đề bài yêu cầu nêu lên tài năng sử dụng ngôn ngữ của Hồ Xuân Hương, thao tác nghị luận cần làm là phân tích để làm rõ được tài năng sử dụng ngôn ngữ của bà.

Bà đã biết sử dụng những từ ngữ rất linh hoạt rất hợp với phong cách dân tộc gần gũi với con người, sử dụng những từ thuần việt dễ hiểu, ngôn ngữ sử dụng dễ hiểu dễ đi sâu vào lòng người thu hút được một lượng đọc giả lớn bởi sử dụng nhiều từ ngữ gần gũi như trong ca dao tục ngữ, những từ ngữ sử dụng rất phù hợp với phong cách dân tộc của bà, Hồ Xuân Hương được mệnh danh là bà chúa thơ nôm.

–    Phương pháp: Phân tích lập luận chứng minh được tài năng sử dụng ngôn ngữ qua hai bài thơ trên.

–    Dẫn chứng lấy từ bài Bánh trôi nước và Tự tình II.

Chuyên mục
Soạn văn 11

Soạn bài Lẽ ghét thương trích truyện lục vân tiên của Nguyễn Đình Chiểu

1. Tác giả, tác phẩm.

– Nguyễn Đình Chiểu( 1882-1888), tự mạnh trạch hiệu phủ ứng trai, ông là một người rất tài năng, nhưng do những năm 50 ông bị mù vì vậy ông đã về quê dạy học ở Gia Định.

2. Chủ đề của tác phầm:

– Tác phẩm đề cập đến cái thiện và cái ác cái chính nghĩa và cái phi nghĩa, đề cao tinh thân nhân nghĩa và khát vọng độc lập dân tộc.

3. Phân tích tác phẩm.

3.1.Ông quán bàn về lẽ ghét thương.

+Những điều ông Quan ghét:

– Ông là một người chính nghĩa luôn biết lo cho dân cho nước mở đầu bài ông đã nêu lên quan điểm ghét thương của mình, ông rất ghét những chuyện vu vơ tầm phào không có lợi ích cho dân cho nước, một người phục vụ cho sự nghiệp của dân tộc luôn lấy tinh thần trọng nghia là chính.

Hàng loạt những câu thơ tiếp theo ông đã nói về nổi ghét của mình để cho dân chúng lầm than xa chân lỡ bước, để dân nhọc nhằn, những lời ghét của ông đã bộc lộ một chế độ cai trị thối nát, ăn chơi, vô độ hoang dâm tà, không lo gì tới lợi ích của nhân dân. Nguyễn Đình Chiểu là một người rất chính trực ông đã nêu rõ quan điểm của mình, phê phán bọn cai trị thối tha, để khiến dân thường phải chịu những đau khổ, những điều mà ông Quán ghét đó là những gì ảnh hưởng tới lợi ích của nhân dân.

+ Những điều ông Quan thương:

Ông thương cho dân chúng lầm than, ông thương những bậc hiền tài luôn phải chịu những lận đận ví dụ như Gia Cát Lượng tài trí nhưng không gặp thời vận, Đào Uyên Minh không chịu luồn cúi quan trên lùi về ở ẩn, Nguyễn Trãi cũng như vậy… toàn những người có đức và có tài những đều gặp những đau thương, ông quan thương cho những nhân vật đó, và chính bản thân ông cũng muốn phụng sự cho đất nước rất nhiều những gặp bất hạnh ông đã bị mù và phải lui về dạy học, những người tài chí phải chịu những bất hạnh chua được đóng góp công sức của mình nhiều cho đất nước đây là một mong ước rất chính đáng của những người chính nghĩa.

3.2.  Cách dùng phép đối, phép điệp ở cặp từ ghét- thương trong đoạn thơ.

Tác giả đã rất thành công trong việc nêu ra quan điểm ghét thương của mình mở đầu bài thơ là hàng loạt những lý do mà ông ghét tiếp theo cũng là những câu thơ bộc lộ những niềm xót thương của ông.

 Biện pháp đối bằng nhau đã được tác giả sử dụng nếu 10 câu thơ đầu có 8 câu ghét được tác giả sử dụng thì tiếp theo cũng 8 câu thương cũng được tác giả sử dụng, tác giả ghét vì những tên quan làm hại dân chúng để cho dân chúng đau khổ lầm than, tiếp theo tác giả lại thương cho những vị anh hùng thánh nhân có tài năng nhưng lại phải chịu những đau thương bất hạnh, tác giả cũng đau xót cho chính bản thân mình.

Hàng loạt những câu thơ được sử dụng với những ý nghĩa rất rõ dàng qua đây chúng ta thấy được tinh thần vì dân vì nước của ông, một vị anh hùng cao cả của dân tộc luôn vì nước vì dân vì sự nghiệp lớn của đất nước, những phép đối lập và cả những cung bậc cảm xúc dối lập nhau được hiện lên thật đậm nét lòng căm thù của tác giả rất lớn và hững xót thương cũng rất dạt dào cảm xúc.

3.3 Ý nghĩa của câu thơ: Vì chưng hay ghét cũng là đau thương.

Con người luôn có những cũng bậc cảm xúc riêng, và những luân lý luân thường đó là nỗi ghét và niềm thương xót, một vị anh hùng có tài đức và có tấm lòng yêu thương dân chúng cao cả do có tấm lòng thương dân nên tác giả đã căm ghét những người hại dân, đó là những điều rất bình thường trong một con người có chí khí và khí phách luôn bảo vệ cho lợi ích của nhân dân.

3.4.  Đặc sắc nghệ thuật được tác giả sử dụng:

Tác giả đã sử dụng hàng loạt những điển tích điển cố nhằm nêu cao tinh thần vì dân vì nước những lời lẽ rất rõ dàng và đầy cảm xúc, những câu thơ nói về nỗi ghét thì mang đầy cảm xúc căm giận, những câu thơ về lẽ thương thì cảm xúc lại dạt dào và đầy cảm xúc.

Tác giả dã rất thành công trong việc sử dụng biện pháp đối trong câu nó làm tăng thêm giá trị nghệ thuật cho tác phẩm.

Ngôn ngữ mà tác giả sử dụng mang đầy cảm xúc một con người chính nghĩa không trực tiếp đấu tranh để bảo vệ cho nhân dân nhưng những lời văn của ông có giá trị tố cáo sâu sắc.

Ngôn từ mộc mạc không trau chuốt gần gũi với nhân dân, lời nói và ngôn ngữ trong văn của ông thấm đậm chất dân tộc.

Chuyên mục
Soạn văn 11

Soạn bài Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu ngữ văn lớp 11

1. Tác giả, tác phẩm.

– Nguyễn Đình Chiểu( 1882-1888), tự mạnh trạch hiệu phủ ứng trai, ông là một người rất tài năng, nhưng do những năm 50 ông bị mù vì vậy ông đã về quê dạy học ở Gia Định.

– Phẩn lộ trước cảnh đất nước bị chia cắt, và những cảnh lầm than do chiến tranh gây ra ông đã miêu tả rất sống động cảnh chạy giặc để qua đó tố cáo tội ác của bọn cướp nước hại dân.

2. Cảnh đất nước và nhân dân khi bị xâm lược.

–  Trước  khi bị thực dân Pháp xâm lược đát nước và nhân dân ta đang trong thời kì yên bình, nhưng khi bị thực dân Pháp nổ sung tấn công đất nước ta rơi vào bi kịch đau thương nhân dân phải chịu những lầm than và những nạn đói liên tiếp xảy ra, chiến tranh đã cướp đi hàng loạt những của cải cũng như tính mạng của người dân, tác giả đã sử dụng hàng loạt những hình ảnh thể hiện sự đau thương do chiến tranh gây nên.

– Những lũ trẻ chạy lơ xơ do bom đạn đổ xuống hàng loạt nhân dân ta phải chạy đi để tránh bom đạn trong đó có những em nhỏ líu xíu chạy và phải chịu những đau thương mất mát, tiếng  bom đạn xả xuống không những con người mà cảnh vật cũng bị xáo trộn những cánh chim dáo riết bay, bến nghé tan bọt nước, nhưng đồng ruộm cũng nhuộm màu bom dạn chiến tranh gây ra bom tội ác cướp đi bao nhiêu tính mạng của nhân dân.

– Tác giả đã thể hiện được tấm lòng của mình qua bài thơ này trước những đau thương do chiến tranh gây ra tác giả đã đồng cảm, và xót thương, qua đó cũng thể hiện được tấm lòng yêu nước thương dân của ông, những hình ảnh đau thương được hiện lên trong trang thơ của ông nó đạm chất hiện thực để tố cáo tội ác tày trời.

3. Thái độ của tác giả.

– Tác giả đã có những lời kêu gọi cho những bậc anh hùng trong đât nước đứng lên để chống lại kẻ thù cho dân tộc, giúp nhân dân thoát khỏi những lầm than, những đau khổ và cả những  mất mát không đáng có, lời kêu gọi mang giá trị rất to lớn: hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng nở để dân đen mắc nạn này, chỉ với hai câu thơ nhưng tác giả đã thể hiện được thông điệp của mình.

-Một người anh hùng có chí khí và có khí phách hiên ngang luôn luôn phụng sự cho đất nước, giọng điệu của tác giả thật đau xót có chút trách móc, nhưng đây là nơi kêu gọi to lớn quần chúng trong cả nước đoàn kết một lòng để chiến thắng được kẻ thù xâm lược, những vị anh hùng của đất nước dường như bị lãng quên và tác giả đã sử dụng từ nở để nhấn mạnh được điều đó, mong muốn của tác giả vô cùng lớn lao muốn phụng sự cho đất nước được yên bình nhân dân thoát khỏi lầm than đau khổ do chiến tranh gây ra.

-Một cuộc sống  đang bình yên thì những cuộc chiến tranh xảy ra nó cướp đi một cuộc sống bình an của nhân dân qua đây tác giả cũng muốn tố cáo tội ác của bọn cướp nước và vạch trần bộ mặt gian xảo của bọn đế quốc đầu xỏ. Câu hỏi ở cuối bài thơ dã làm cho người đọc day dứt và có nhiều cảm xúc nó để lại bao xót thương và cũng mang một âm hưởng hào hùng vì lời kêu gọi đứng lên xả thân vì nước của Nguyễn Đình Chiểu.

4. Chạy giặc là bài thơ thể hiện được nổi đau mất mát của đất nước

-Trước hoàn cảnh đó tác giả đã nêu ra những hiện thực do chiến tranh gây nên nó đã tố cáo tội ác của bọn đế quốc làm cho tan chợ, lũ trẻ chạy lơ xơ, những cánh chim mất ổ, bến nghé tan bọt nước, đồng nai nhuộm màu mây và câu cuối của bài thơ đã thẻ hiện được lòng yêu nước thương dân của tác giả những giây phút hào hùng nhất đã biết đứng lên kêu gọi mọi người cứu dân cứu nước, ngòi bút của ông thật đặc sắc nó để lại rất nhiều cảm xúc trong lòng người đọc hôm nay và mai sau.

– Chạy giặc đã nêu lên một tấm bi kịch của một đất nước khi có giặc đến xâm lược, nhân dân đang sống trong cảnh bình yên thì lại phải chịu những lầm than tủi khổ, chạy nháo loạn vì bom giặc dội xuống, chúng cướp đi nhà cửa cướp đi tính mạng của những người thân của họ, bài này đã tó cáo tội ác, qua đó tác giả cũng thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc.

– Dù mù lòa nhưng tác giả vẫn đóng góp công lao rất lớn cho sự nghiệp của đất nước, những vần thơ của ông đã lột tả được tội ác của kẻ thù, ông làm cho người dân thấu hiểu và đoàn kết chống lại kẻ thù. Ông có một tấm lòng yêu nước lơn lao, mỗi trang thơ và vần thơ là một công cụ sắc bén để ông thực hiện chiến đấu bằng ngòi bút của mình.

– Bằng những hình ảnh đặc sắc và những chi tiết hiện thực hấp dẫn tác giả đã vẽ lên một hiện thực phê phán sâu sắc.

Chuyên mục
Soạn văn 11

Soạn bài Luyện tập về ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân

I. Quan hệ giữ ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân.

– Ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân có quan hệ hai chiều với chung, ngôn ngữ chung là cơ sở để lời nói cá nhân phát triển và nảy sinh. Lời nói cá nhân là phần biểu nộ của ngôn ngữ chung tùy thuộc vào đối tượng và cách thức vận dụng ngôn ngữ chung vào giao tiếp cho phù hợp với ngữ cảnh và cách thức sử dụng cho phù hợp.

II. Luyện tập:

1. Từ nách được sử dụng rất phổ biến, quen thuộc với người sử dụng vốn tiếng việt với nghĩa mặt dưới chỗ cánh tay nối với ngực. Nhưng Nguyễn Du đã sử dụng từ nách trong các trường hợp với nghĩa như sau:

a) Nách tường bông liễu bay sang láng giềng: Đây là một từ ẩn dụ để nói về phía ngách nhỏ giữa hai mép tường mà có thể nách sang được nhà láng giềng tác giả thật thành công khi sử dụng từ nách từ chỉ bộ phận của cơ thể sang chỉ một hành động của con người giữa hai bộ phận đó là mép tường.

2. Từ xuân được mỗi nhà thơ sử dụng với ý sau :

– Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại: Đây chỉ sự luân hồi của mùa xuân đây là một quy luật của tự nhiên mà theo tạo hóa quy luật của tự nhiên đã ban tặng cho thiên nhiên.

– Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay: Đây là chỉ người con gái đã đến tuối thành hôn, chỉ vẻ đẹp của người con gái đang đến tuổi cập kê, và con gái tuổi đôi mươi.

– Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân: đây là câu để chỉ tình bạn lâu ngày không gặp nhau cùng chung nhau với chén rượu nồng đầy ăm ắp.

– Mùa xuân là tế trồng cây làm cho đất nước càng ngày càng xuân: Đây là chỉ mùa xuan của đất trời, mùa xuân là mùa của cây trái đâm trồi nảy lộc, màu của đất nước xanh tươi, trồng cây vào tết mùa xuân là lễ hội quen thuộc của việt nam nó góp phần làm cho đất nước thêm tươi đẹp hơn.

3.Ý của từ mặt trời được tác giả sử dụng với các ngụ ý khác nhau:

a) Mặt trời xuống biển như hòn lửa sóng đã cài then đêm sập cửa: Đây là chỉ mặt trời của thiên nhiên, khi mặt trời lăn đoàn thuyền đánh cá vào bờ mặt trời đã lặn dưới hoàng hôn, mọi người dân đã vào những giấc ngủ để chuẩn bị cho một ngày đánh bắt đầy năng suất.

b) Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ mặt trời chân lý chói qua tim: Đây nói về lý tưởng giác ngộ cách mạng của tác giả, mật trời chân lý nói về lý tưởng mà tác giả đã giác ngộ và nó làm cho trái tim của tác giả có chút rung động bởi nó phục vụ cho dân cho nước.

c) Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi mặt trời của mẹ em nằm trên lưng: Đây chỉ thứ nhất mặt trời của vủ trụ thứ hai nói mặt trời của mẹ đó là những đứa con của mẹ nằm trên lưng trên những dãy ngô trên đồi.

4. Từ mới được tạo ra:

a) Từ mọn mằn được tạo ra do cấu tạo từ mới trong tiếng viết, được vào từ có phụ âm đầu bắt đầu bằng từ m muộn màng, đây là chỉ sự ra đời muộn.

b) Từ giỏi giắn:  đây cũng được dựa trên sự cấu tạo âm mới trong tiếng việt, bắt đầu bằng những từ mang nghĩa đảm đang chịu khó tháo vác.

c) Từ nội soi được mượn trong lĩnh vực y học, đây là một công cụ nhỏ có phát sáng và được luồn xuống phái dưới của cổ họng để xác định bệnh.

Chuyên mục
Soạn văn 11

Giới thiệu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu

I. Những nét chính về cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu.

– Nguyễn Đình Chiểu(1822-1888) tự là mạch trạch, hiệu trọng phủ, hối trai, sinh ra huyện Bình Dương tỉnh Gia Định nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

-Xuất thân trong một gia đình nhà nho, ông là một người có tấm lòng yêu nước thương dân cả cuộc đời của ông đều có gắng đóng góp cho đất nước.

– Vào những năm 50 Nguyễn Đình Chiểu bị mù và về quê dạy học.

– Cuộc đời của nhà thơ là tấm gương sáng, cao đẹp cho nhân cách và nghị lực của con người tuy bị mù những những đóng góp của ông không hề nhỏ và những tác phẩm của ông đậm chất hiện thực và phê phán sâu sắc.

II. Giá trị thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu.

– Lý tưởng đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu được xây dựng chủ yếu trên cơ sở: Nguyễn Đình Chiểu viết truyện Lục Vân Tiên nhằm mục đích truyền dạy những bài học về đạo làm người chân chính.

Đạo lý làm người của Nguyễn Đình Chiểu mang tinh thần nhân nghĩa của đạo Nho, nhưng lại rất đậm đà tính nhân dân, truyền thống dân tộc, những mẫu người lý tưởng là những con người sống chung thủy, biết giữ gìn nhân cách ngay thẳng, cao cả, dám đấu tranh và có đủ sức mạnh để chiến thắng nững thế lực bạo tàn, cứu nhân độ thế.

– Nội dung trữ tình yêu nước của Nguyễn Đỉnh Chiểu: Ông đã sáng tác những tác phẩm đáp ứng nhu cầu xuất sắc yêu cầu của cuộc chiến tranh đấu giữ nước buổi ấy, thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu ghi lại chân thực một thời đau thương của đất nước, khích lệ lòng căm thù giặc sâu sắc.

– Tác động của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đã để lại những giá trị tố cáo sâu sắc qua những câu thơ mang giá trị tố cáo sâu sắc,ông đã thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc của mình qua tác phẩm Chạy giặc, văn tế nghĩa sĩ cần giuộc…

Mỗi lời thơ của ông viết lên đều mang đậm giá trị tố cáo sâu sắc, bên cạnh đó cũng có rất nhiều những câu thơ nhằm ca ngợi những vị anh hùng của dân tộc, những người đã xả thân vì dân vì nước, trong đó Nguyễn ĐỈnh Chiểu là tấm gương sáng trong những vị anh hùng đó.

– Sắc thái Nam Bộ của Nguyễn Đình Chiểu biểu hiện ở những điểm: thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu rất đậm sắc thái Nam Bộ, mỗi người Nam Bộ đều có thể bắt gặp mình ở các nhân vật của ông, từ lời ăn tiếng nói mộc mạc đến tâm hồn bình dị, chất phác, cách cư xử phóng khoáng hồn nhiên ngây thơ, lối thơ của ông cũng nghiêng về kể các câu truyện mang màu sắc diễn xướng.

III. So sánh tư tưởng trong bài của Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Trãi:

– Nguyễn Trãi là mang tư tưởng vì dân, cốt ở yên dân quân điếu phạt trước lo trừ bạo, như nước Đại Việt ta từ trước đã mang nền văn hiến đã lâu.

– Nguyễn Đình Chiểu: cũng mang tư tưởng vì dân vì nước cả hai người này đều có tư tưởng vì dân vì nước.

Hai vị nhân tài của đất nước đều là những người hết lòng vì nhân dân trong tư tưởng của mình ông đã cố gắng bày tỏ được những tư tưởng cốt yếu của mình trong thơ ca, mỗi tác phẩm đều thể hiện được tư tưởng yêu dân, mọi lợi ích đều hướng tới nhân dân, nhân dân làm chủ và chiến đấu trên ngòi bút của mình hai người vẫn luôn muốn hướng tới vấn đề đạo đức trong tư tưởng cốt ở dân của mình.

Sự khác nhau: mỗi người có một phong cách viết riêng nhưng mục đích chúng đều phục vụ cho đất nước.

Chuyên mục
Soạn văn 11

Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ cần giuộc của Nguyễn Đình Chiểu

1. Tác giả.

– Nguyễn Đình Chiểu(1822-1888) tự là mạch trạch, hiệu trọng phủ, hối trai, sinh ra huyện Bình Dương tỉnh Gia Định nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

– Xuất thân trong một gia đình nhà nho, ông là một người có tấm lòng yêu nước thương dân cả cuộc đời của ông đều có gắng đóng góp cho đất nước.

– Vào những năm 50 Nguyễn Đình Chiểu bị mù và về quê dạy học.

– Cuộc đời của nhà thơ là tấm gương sáng, cao đẹp cho nhân cách và nghị lực của con người tuy bị mù những những đóng góp của ông không hề nhỏ và những tác phẩm của ông đậm chất hiện thực và phê phán sâu sắc.

2. Tác Phẩm.

– Văn tế: là loại văn thường gắn với phong tục tang lễ, nhằm bày tỏ lòng tiếc thương đối với người đã mất, văn tế thường có nội dung cơ bản, kể lại cuộc đời công đức phẩm hạnh của người đã mất và bày tỏ tấm lòng xót thương sâu sắc.

– Bố cục của bài văn tế gồm: 4 phần:

+ Phần 1 từ lung đầu đến vang như mỏ: đây là cơ sở bàn bạc về lẽ sống và cái chết.

+ Phần 2: Tiếp đến tàu đồng súng nổ: Đây nói về những công lao của những người chí dũng, những anh hùng đã thân vì đất nước những người chiến sĩ cần giuộc.

+ Phần 3: tiếp đến dật dờ trước ngõ: đây là niềm xót thương đối với người đã khuất và tấm lòng xót thương sâu sắc của tác giả đối với những người đã hy sinh vì đất nước.

+ Phần 4: Còn lại: Ca ngợi tinh thần bất diệt của những người chiến sĩ.

2. Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được tái hiện:

– Xuất thân: Những người chiến sĩ cần giuộc đều xuất thân từ những người nông dân chất phát cần cù làm ruộng, “việc cuốc việc cày việc bừa tay đã làm quen”, đây là những người nông dân chất phát cần cù những lại có một lý tưởng rất cao đẹo những người chiến sĩ này đã chăm chỉ và nêu cao lý tưởng cách mạng vì đọc lập dân tộc.

– Vẻ bề ngoài chỉ là những người nông dân nhưng họ lại có những phẩm chất rất đáng ngợi khen, do hoàn cảnh nghèo đói túng thiếu những người chiến sĩ này phải chăm chỉ làm ăn và có những chiến công vang dội cho dân cho nước.

– Họ có một tấm lòng rất đáng quý dam xả thân vì đất nước tuy tay cày tay bừa nhưng khi có chiến tranh họ sẵn sàng cầm súng để chiến đấu, không một kẻ thù nào có thể đánh bại ý chí kiên cường của những người chiến sĩ cần giuộc.

– Những biểu hiện của lòng câm thù giặc: bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan, ngày xem ông khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ… đây là những biểu hiện của lòng căm thù quân giặc không có một hành đọng nào của kẻ thù mà nhân dân ta bỏ qua, muốn tới ăn gan, cắn cổ đây là những biểu hiện thẻ hiện lòng căm thù mọt cách sâu sắc.

– Công cụ chiến đấu và trang bị cá nhân của những người chiến sĩ rất thô sơ và mộc mạc, những manh áo vải, ngọn tầm vông, những lưỡi dao phay tất cả những công cụ đó rất quen thuộc đối với nhân dân thì nay nó lại trở thành những công cụ chiến đấu đắc lực của những người chiến sĩ cần giuộc.

-Đối lập với công cụ chiến đâu của ta thì kẻ thù lại có những đạn to đạn nhỏ tàu đồng, ta thì vũ khí thô sơ, nhưng điều đó không làm cho nhân dân ta nản chí và lùi bước những hành động và những động từ mạnh được tác giả sử dụng đó là đam ngang, đâm chéo… Những hành động cao cả của những người chiến sĩ đã phán ánh được tinh thần yêu nước quật cường của những người chiến sĩ này.

3. Tiếng khóc bi thương của tác giả.

– Tác giả đau xót cho những người đã mất, những người dã hy sinh cho đất nước: những người chiến sĩ nằm lại nơi chiến trường để lại ở nhà con thơ và những người mẹ leo đơn, tác giả đã khóc thương cho số phận của những người chiến sĩ những nỗi đau xót xa không bao giờ nguôi.

Nối đau này không bao giờ bi bi lụy bởi những sự hy sinh của những người chiến sĩ này rất to lớn, nó có thể để lại suy nghĩa cho bao thế hệ hôm nay và mai sau có thể biết ơn và noi theo tinh thần xả thân của những người chiến sĩ cách mạng.

4. Sức gợi cảm của bài văn chủ yếu qua:

– Hình tượng xây dựng nhân vật của tác giả, tác giả đã rất thành công trong việc kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực, ngôn ngữ của bài văn tế giản dị gần gũi mang đạm chất Nam Bộ, những hình ảnh người chiến sĩ thật sinh động qua những tấm áo rách, những công cụ chiến đấu thô sơ nhưng tinh thần chiến đấu vẫn rất kiên cường.

– Bài văn tế là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương những vĩ dại cho cả một dân tộc, những hình ảnh về người chiến sĩ cần giuộc sẽ còn mãi trong thơ văn việt nam.

Chuyên mục
Soạn văn 11

Soạn bài Luyện tập về hiện tượng tách từ

1. Mặt sao dày dạn gió dạn sương, thân sao bướm chán ong chường bấy thân.

– Đây là một hiện tượng tách từ trong câu, các từ dày dạn, chán chường được tách ra trong câu theo cách đan xen thêm từ ngữ vào, câu ban đầu của nó là dày dạn gió sương, bướm ong chán chường, cách tách từ và xen từ có tác dụng làm cho câu thơ thêm sinh động và hấp dẫn hơn.

b) Tác dụng của việc tách từ là tăng thêm ý cho câu nó tạo nên nhịp điệu và cách đối xứng, trong bài trên nó làm tăng thêm tâm trạng day dứt chán chường của sự vật và cũng làm tăng thêm tâm trạng buồn rầu của con người.

c) Ví dụ về hiện tượng tách từ: bài lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu: Quán rằng ghét việc tầm phào ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm ghét đời kiệt trụ mê dâm để dân đến nỗi sa hẩm sảy hang, trong bài trên các từ được tách đó là cay đắng, sa sẩy, đắn đo..

2. Các câu có các cụm từ có thể tách ra: lạc siêu hồn phách, đi về lẻ loi, thành hồn xiêu phách lạc hồn lạc phách xiêu…, ta có thể đặt câu:

Bóng ma tôi qua đã làm cho nó hồn xiêu phách lạc, kể từ khi người chồng lên ngựa ra chiến trường… người chinh phụ sống trong cảnh đi lẻ về lôi cô đơn chờ đợi.

3. Đặt câu với các thành ngữ có hiện tượng tách từ:

– Dãi gió đầm sương: Cha mẹ tôi quanh năm phải dãi nắng dầm sương kiếm tiền để nuôi tôi ăn học.

– Đối nhân xử thế: Cô ấy là người biết cách đối nhân xử thế.

– Mà vội mà vàng: Cô ấy đi đâu mà vội mà vàng thế, kiểu mắc phải đá mà quàng phải dây.

+ Hiện tượng tách từ làm tăng thêm ý nghĩa biểu đạt cho câu làm cho câu tăng thêm phần nội dung ý nghĩa và tư tưởng trong một tác phẩm mỗi một hiện tượng để lại trong bài làm tăng thêm nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong câu.

5. Hiệu quả diễn đạt của hiện tượng tách từ đối với từ láy và từ ghép:

– Ăn với chả uống: đây là một hiện tượng tách từ, làm tăng ý nghĩa cho câu ăn uống không được đàng hoàng, đây là câu thể hiện ý chê bai: VD: Con ăn với trả uống như thế à.

– Đi với trả đứng: biểu hiện đi không được đàng hoàng, không cẩn thân hấp tấp ví dụ: con đi với chả đứng như thế à ngã ra rồi đây này.

– Xinh với chả đẹp: Nói về việc không nên chú trọng đến nhan sắc quá nhiều, ví dụ: con mẹ ơi hôm nay con mặc cái này có đẹp không ạ thôi xinh với trả đẹp gì đi ăn đi cho mẹ nhờ.

– Chồng với chả con: Nói về việc chồng không nhờ vả được việc gì, ví dụ chồng bế con này, anh đang bận lắm , chồng với chả con không nhờ được việc gì cả