Chuyên mục
Soạn văn 12

Soạn bài Tây Tiến của Quang Dũng văn học lớp 12

Soan bai Tay Tien cua Quang Dung – Đề bài: Em hãy Soạn bài Tây Tiến của Quang Dũng văn học lớp 12. Bài soạn văn của cô giáo Thu Trang.

1. Tác giả.

– Quang Dũng( 1921-1988) quê ở Đan Phượng Hà Tây, ông từng tham gia xuất bản nhiều bài văn và bài báo có giá trị, là một người chiến sĩ tài hoa.
– Vừa là nhà chiến sĩ cách mạng Quang Dũng vừa là nhà thơ xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

2. Tác phẩm.

– Tây tiến được in trong tập thơ mưa đầu ô năm 1968, tây tiến là bài thơ thể hiện đạm nét phong cách của Quang Dũng một người chiến sĩ cách mạng.
– Tây tiến là đơn vị bộ đội được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ  biên giới Việt Lào.

3. Bố cục.


– Chia bài làm 4 đoạn:

+ Đoạn 1: 14 câu thơ đầu: Nói về những cuộc hành quân vất vả của những người chiến sĩ cách mạng và khung cảnh nơi các chiến sĩ hành quân.
+ Đoạn 2: 8 câu thơ tiếp theo, đây là đoạn thơ nói về những kỉ niệm của những người chiến sĩ cách mạng.
+ Đoạn 3: Tiếp đến khúc độc hành: đây là đoạn nói về nỗi nhớ đồng đội da diết của tác giả đối với những người chiến sĩ đồng đội của mình.
+ Đoạn 4: Còn lại là lời thề gắn bó với tây tiến.

4. Những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân tây tiến.

–  Tây tiến là nơi để lại bao hình ảnh và cảm xúc đối với những người chiến sĩ cách mạng, những lời da diết:

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi !
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Nỗi nhớ về những hình ảnh quen thuộc như sông , nhớ rừng núi, những mường lát đầy hoa, nỗi nhớ của tác giả thể hiện qua những hình ảnh rấ quen thuộc, những nỗi nhớ chơi vơi, mang một nỗi buồn man mác nó gợi lại trong kí ức của nhà thơ những hình ảnh rấ gần gũi trong những năm tháng chiến đấu. Đây chỉ còn là nỗi nhớ và những hoài niệm mà tác giả nhớ lại nơi chiến trường xưa khi mình còn là người chiến sĩ đang phục vụ tại đoàn binh tây tiến, nỗi nhớ của tác giả đã thể hiện rất sâu sắc qua những từ rất giàu cảm xúc như “ Tây tiến”, nhớ về những cánh rừng khi tập kích, nhớ những đoàn quân chân mỏi mệt đi hành quân mặt trận tất cả đều rơi vào kí ức và nay tác giả đã hồi tưởng lại, để mang những cảm xúc nhớ thương.

Hoàn cảnh chiến đấu: khó khăn gian nan, có thể lấy đi tính mạng của những người chiến sĩ bất cứ lúc nào:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Đây cũng là một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ ở Tây Tiến, rất hoang vu, hiểm trở nhưng rất thú vị, tác giả đã rất thành công trong việc sử dụng những từ ngữ để miêu tả độ cao, dốc lên khúc khuỷu, thăm thăm những từ lấy để làm tăng mức độ nguy hiểm và khó khăn trong trong chiến đấu, những người chiến sĩ đã phải vượt qua rất nhiều những an nguy những nguy hiểm để chiến đấu bảo vệ cho sự nghiệp của đất nước những người chiến sĩ đó rất kiên trì và đồng lòng để cùng nhau hoàn thành tốt được nhiệm vụ của mình. Những địa hình trắc trở có thể lấy đi tính mạng của những người chiến sĩ này nhưng không vì thế mà những người chiến sĩ nản chí:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời !
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Những người chiến sĩ đã phải nằm lại nơi chiến trường khắc nghiệt, gục lại súng mũ để bỏ quên cuộc đời trẻ của mình, những khó khăn vất vả những người chiến sĩ này vẫn phải vượt qua, mặc cho bom đạn đổ ra nhưng tinh thần chiến  đấu vẫn hề suy giảm. Nhưng hình ảnh bi thương mà tác giả đã thể hiện nó mang một nỗi mất mát lớn lao, số lượng những người chiến sĩ nằm lại nơi chiến trường rất nhiều và nó cướp đi tuổi thanh xuân cũng như gia đình của những người chiến sĩ một lòng phục vụ cho đất nước:

Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Những hoạt động ở doanh trại làm cho những người chiến sĩ nhớ mong, những đêm trại đuốc hoa, những mùi nếp thơm, và những tiếng khen vang lên.. tất cả đã hòa vào nỗi nhớ của những người chiến sĩ của chúng ta, những không khí nhộn nhịp xua tan đi bao khó khăn, tạo ra những cảm giác dịu êm.

4. Những kỉ niệm của tình quân dân và cảnh sông núi Miền Tây đầy thơ mộng của tổ quốc.

– Cảnh đêm liên hoan văn nghệ, những đêm liên hoan văn nghệ nhộn nhịp tươi vui được diễn ra ở doanh trại, tác giả đã kể lại những hình ảnh quen thuộc gần gũi của những người chiến sĩ, những hình thiên nhiên hoang sơ thơ mộng cũng được tác giả đề cập đến đó là những hình ảnh rất gần gũi và quen thuộc của những người lính cách mạng:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Những hình ảnh trên hiện tại chỉ còn là trong thơ ộng và nó đã trôi vào dĩ vãng, ngoảnh lại chỉ còn những dáng người, trôi theo những dòng nước mênh mông, hồn lâu ở trên khu chiến đấu vẫn đang bay cùng những làn gió nhưng những người chiến sĩ giờ chỉ còn trong kí ức nỗi nhớ đồng chí đồng đội của tác giả thật sâu sắc.
Khi về tác giả vẫn không ngừng nhớ mong tới những hình ảnh ở nơi chiến trường dù bom đạn khắc nghiệt nhưng những người chiến sĩ này đã bỏ quên đời, và hy sinh vì tổ quốc, vẫn dáng người trên độc mộc, trôi theo những dòng nước trôi mênh mang.

5. Chân dung của những người chiến sĩ cách mạng.

– Tác giả đã nói lên hiện thực do chiến tranh gây lên, những đợt mưa sốt rét rừng đã làm cho tóc của những người chiến sĩ rụng hết và cùng với những cơn sốt làm cho đẫm mồ hôi:

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Những người chiến sĩ cách mạng xuất thân từ những người hà thành nhwung có chiến tranh họ vẫn ra trận chiến đấu có người đã phải nằm lại nơi chiến trường xưa bỏ quên một cuộc đời tuổi trẻ của mình, bỏ qua bao khó khăn nhọc nhằn để chiến đấu vì một nèn cách mạng độc lập tự do cho dân tộc. Ra đi chiến đấu nhưng người chiến sĩ của chúng ta đã phải bỏ lại người thân, người yêu ở nhà ra đi chiến đấu nhưng lòng vẫn luôn nhớ tới người thân của mình, những dáng kiều thơm:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Những hy sinh to lớn của những người chiến sĩ đã để lại trên trang sử vàng của dân tộc, biên cương mồ viễn xứ chết ở nơi đất khách quê người, ra đi chỉ có chiếc áo bào thay cho manh chiếu để về với đất mẹ. tác giả đã rất thành công trong việc nhân hóa và sử dụng những hình ảnh rất sinh động để nói về sự hi sinh to lớn của những người chiến sĩ

6. Đoạn kết.

– Lời thề sắc son với đất nước, và những nhớ mong về một thời chiến tranh bom đạn để bảo vệ đất nước mến yêu của dân tộc.
– Quang Dũng đã thể hiện tình cảm sâu sắc của mình qua bài thơ Tây Tiến nỗi nhớ đồng chí đồng đội và nhớ những khu chiến đấu hào hùng, để lại cho người đọc chúng ta những giây phút lịch sử hào hùng qua giọng văn của Quang Dũng đã thể hiện sâu sắc qua những từ ngữ sâu sắc và hàng loạt những biện pháp làm tăng thêm giá trị biểu cảm của bài thơ.

Chuyên mục
Soạn văn 12

Soạn vài Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài văn lớp 12

Soan bai Vo chong A Phu – Đề bài: Em hãy Soạn vài Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài văn lớp 12. Bài soạn văn của một bạn học sinh tại Hà Nội.

1. Tác giả

Tô Hoài: tên khai sinh là Nguyễn Sen sinh năm 1920, ông là nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam, bản thân ông đã phải lam lũ và cứu sống bằng nhiều nghề, trước cách mạng tháng 8 ông là một nhà văn nổi tiếng và đạt được nhiều thành tựu to lớn.

2. Tác phẩm.

–    Vợ chồng A phủ được in trong tập truyện Tây Bắc, trong một đợt đi thực tế vào giải phóng toàn bộ Tây Bắc năm 1952.

3. Bố cục

Tác phẩm chia làm hai phần:
–    Mị và A Phủ ở Hồng Ngài
–    Mị và A Phủ ở Phiềng Sa

4.  Nhân vật Mị

a. Số phận của nhân vật mị:

– Mị là một cô gái xinh đẹp, hiền lành,có tài thổi sao rất giỏi, một lòng hiếu thảo với cha mẹ và có người yêu là A phủ nhưng sau đó bị bắt làm vợ của nhà thông lý Pá Tra, những cuộc đời thật éo le đã đẩy mị vào bước đường cùng, mị luôn buồn rầu và bị nhốt trong một căn phòng tối om chỉ có tia sáng bằng lỗ bàn tay, số phận của Mị thật lận đận và thật xót xa cho những nhân vật có hoàn cảnh như Mị Nguyễn Tuân thật đặc sắc khi dẫn đầu vào câu chuyện đã giới thiệu một cô gái luôn có vẻ đẹp và nỗi buồn rười rượi đây là cách dẫn vào chuyện hấp dẫn và rất thu hút người đọc.

– Mị đau khổ buồn bã khi về làm dâu nhà thống lí suốt mấy tháng liền Mị vẫn khóc, do thương cha nên phải lấy chồng để hết nợ cuộc đời của Mị không dừng lại ở đó bất hạnh lại càng bất hạnh khi Mị định tự tự nhưng nhìn thấy người cha già Mị lại không tự tử nữa một con người cao cả đã biết hy sinh lợi ích cá nhân cho cha mẹ của mình, tác giả đã miêu tả Mị lầm lũi như một con rùa nuôi trong xó của số phận lận đận đã đầy Mị đến một bi kịch đau thương từ một cô gái xinh đẹp nay trở thành một người có tâm trạng  buồn rầu khuôn mặt luôn mang vẻ buồn bã đây đúng là một nhân vật phải chịu nhiều đau thương.

Mị chỉ biết lao đầu vào công việc suốt ngày lầm lũi không lúc nào nghĩa không gian Mị sống thì chặt hẹp căn phòng chỉ có ô vuông bằng àn tay để nhìn ra ngoài, chỉ nhìn thấy ờ mờ ảo ảo trông không biết mưa hay nắng. Mị dường như đã bị giam lỏng cả về thể xác lẫn tinh thần, nhưng rồi vì thương cho người cha già của mình Mị đã cố gắng sống sức sống đó được thể hiện rất mãnh liệt.

–    Trong đêm tình mùa xuân Mị đã nhớ lại tất cả những kỉ niệm trước đây của mình, khi trước Mị là một cô gái có tài thổi sáo rất hay, Mị đã thả hoonf mình vào đêm xuân đó nghe thấy tiếng sao tâm hồn Mị nhưng đang sống lại cái quảng thời gian trước đây của mình, nàng thả hồn mình vào cuộc chơi và quên đi chút hiện tại mình đang sống như thế nào, có thể nói đây là cơ hội để cho nàng hồi sinh và có thể sống một cuộc đời tươi vui trước đây.

–    Mị đang chuẩn bị sắm sửa để đi chơi nhưng rồi bị A Sử cấm cho đi chơi hắn cột Mị vào nhà cột cả tóc lên khiến Mị không ngẩng đầu lên được đó là một hành động mất hết nhân tính, Mị vẫn đang du mình trong đêm xuân những tiếng ngựa ngoài kia làm cho Mị tỉn giấc nàng đã trở lại với hiện tại, một hiện tại đau khổ và phải chịu đau thương cả về thể xác lẫn tinh thần.

–    Đêm đông trên núi cao: Mị là một cô gái đang sống trong một hiện thực đau khổ, khi nhìn thấy A Phủ bị trói trong nhà thống lí Mị đã dửng dung nhưng rồi khi nhìn thấy hai giọt nước mắt ấy mụ đã tỉnh giấc và trỗi dậy một niềm tin lớn đối với chàng, nàng cởi trói cho A Phủ và cả hai người cùng chạy trốn, sống một cuộc sống đúng nghĩa của cách mạng tự do.

5. Nhân vật A Phủ.

– A Phủ cũng là một nhân vật bị bắt về để trả nợ cho nhà thông lý trước đây anh cũng là một chàng trai khỏe mạnh nhưng nay bị bắt về làm nô lệ, cuộc sống của anh vất vả khi phải đi làm thuê kiếm sống, anh là một chàng trai rất kiên cường và chăm chỉ, nhưng rồi số phận thật éo le đã đẩy anh đến nhà thống lý, bi kịch xảy ra với anh khi anh đi chăn bò và đã để hổ ăn mất con bò nhà thống lý anh bị bắt và bị trói, số phận của anh nay bắt đầu rơi vào đau thương.

–    A Phủ đã có ý định chạy trốn nhưng rồi vẫn bị nhà thống Lý trói chặt hơn, trong đêm tình mùa xuân anh đã gặp Mị người con gái đã cứu anh thoát khỏi nhà thống Lý, do hai dòng nước mắt của anh đã làm thức tỉnh tâm hồn của Mị và từ đó Mị đã cứu A Phủ. Trong truyện có hai nhân vật đó là Mị và A Phủ có số phận thật bất hạnh hai người đều là nạn nhân trong gia đình nhà thống lí, tuy nhiên trong đêm tình mùa xuân và cả trong đêm đông Mị đã thức tỉnh và cứu được A Phủ thoát khỏi nơi đây và sống một cuộc sống hạnh phúc.

6. Nghệ thuật trong truyện.

–  Tô Hoài đã rất thành công trong việc xây dựng tâm lí nhân vật Mị và A Phủ là hai nhân vật điển hình trong truyện ngắn của Tô Hoài, cách xây dựng nhân vật xâu chuỗi theo những sự kiện tuyến tính theo thời gian đã thu hút sự chú ý quan tâm của tác giả. Qua câu chuyện chúng ta đã lên án mạnh mẽ thế lực thống lý miền núi Pa Tra, những tên cường hào độc ác đã áp bức bóc lột sức lao động của người dân, bài có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc.

Chuyên mục
Soạn văn 12

Soạn bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm ngữ văn 12

Soan bai dat nuoc cua Nguyen Khoa Diem – Đề bài: Anh chị hãy Soạn bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm ngữ văn 12. Bài soạn văn của một học sinh lớp 12 tại Đà Nẵng.

1. Tác giả.

Nguyễn Khoa điềm sinh năm 1943 tại Thừa Thiên Huế, ông sinh ra và lớn lên tại một gia đình có truyền thống giàu lòng yêu nước chống giắc ngoại xâm.

2. Tác phẩm

– Do ông có một tấm lòng yêu nước nồng nàn vì vậy ông đã sáng tác nên bài thơ đất nước, với giọng văn đầy chất suy tư, và mang giọng trữ tình sâu sắc.

3. Bố cục

Chia văn bản thành 2 phần:

Phần 1: gồm 42 câu thơ đầu: đoạn này nói về vẻ đẹp của đất nước được tác giả so sánh và đánh giá trên nhiều phương diện nghệ thuật.

Phần 2: 47 câu thơ cuối: tư tưởng của nhân dân, đất nước là của nhân dân.

4. Đất nước được tác giả cảm nhận trên nhiều phương diện.

Đất nước được tác giả cảm nhận rất gần gũi và mộc mạc đất là nơi em tới trường nước là nơi anh tắm đất nước là nơi ta hò hẹn, đất nước được hiện lên thật sâu sắc và mang đậm những chất gần gũi thân thương, so sánh từ chiều dài lịch sử đất nước đã là nơi gắn bó với nhân vật trữ tình là anh và em.

Khi ta lớn Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc.
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó..

Đất nước hiện lên qua những miếng trầu, miếng trầu được sử dụng như đầu mỗi câu truyện, trong những hạt gạo của làng quê, đất nước hiện lên thật gần gũi thân thương nó mang đậm bản sắc của một dân tộc có bề dày lịch sử, mỗi nhân dân đều gắn bó và là một thành phần trong đất nước.

Đất nước được tác giả đánh giá và cảm nhận trên tất cả các phương diện khác nhau từ không gian văn hóa địa lý đến chiều dài lịch sử của dân tộc, đất nước trong đau thương mất mát.., hình ảnh đất nước hiện lên thật gần gũi nó biểu hiện qua hình ảnh những bới tóc của người bà hay những miếng trầu biểu lộ trong từng câu chuyện, từ khi con người sinh ra đất nước đã có, đất nước được hiện lên thật sinh động nó mang đậm bản chất của một nền văn hóa lịch sử giàu đẹp của nhân dân ta, trong những cuộc chiến tranh của đất nước cũng là những vị anh hùng đứng vững trước những bom đạn của kẻ thù và trong đau thương đất nước vẫn rũ buồn đứng dậy vì những chân lý độc lập của đất nước, mỗi khi đất nước ra chông giặc ngoại xâm hình ảnh đất nước trong chiến tranh hiện lên với một vẻ đẹp thật hùng vĩ, những đau thương mất mát do chiến tranh gây lên nó cũng phải chịu đựng và đất nước được coi như là một chứng nhân lịch sử nó đã chứng kiến suốt chiều dài lịch sử chúng kiến những cặp vợ chồng son sắt thủy chung, những lũy tre làng đã cùng nhân dân đánh giặc một minh chứng lịch sử to lớn của dân tộc việt nam:

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Đất nước còn là nới hẹn hò của những trai gái yêu nhau,là nơi chứng kiến những cuộc tình đẹp của con người, nhân vật trữ tình em cũng là nhân vật được đất nước minh chứng, đất nước là một cụm từ rất thiêng liêng và gần gũi với mỗi con người chúng ta, nó gắn bó với những phong tục hết nỗi thân thương và mang đậm chất trữ tình sâu sắc, đât nước là một nhân vật được tác giả sử dụng và nó vô cùng thiêng liêng gần gũi với mỗi người dân.

5. Tư tưởng đất nước của nhân dân.

Đất nước là một nhân chứng đáng quý của mỗi người dân việt nam, ở phần 1 đất nước được cảm nhận qua rất nhiều những phương diện như lịch sử, văn hóa, hay chiều dài lịch sử… đất nước hiện lên với những vẻ thân thương gần gũi bởi cốt lõi đất nước mang tư tưởng nhân dân, những hình ảnh quen thuộc của đất nước như hòn trống mái, hay núi vọng phu đây là những hình ảnh của địa danh ở việt nam,đất nước Việt Nam là một đất nước giàu tình yêu thiên nhiên quê hương đất nước có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, đất nước là nơi vô cùng thiếng liêng những nó lại rất đỗi gần gũi với con người:

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau 4.000 năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
Vào 4.000 năm Đất Nước

Đất nước là một vị anh hùng: một minh chứng cho những vị anh hùng đã xả thân vì nghiệp lớn, đât nước là nơi đoàn kết gắn bó của nhân dân trong lao động sản xuất, hình ảnh đất nước được hiện lên trong ca dao tục ngữ mang đậm tính dân tộc sâu sắc, đất nước từ nhân dân do nhân dân và vì nhân dân mà ra tất cả đều phục vụ cho nhân dân, tư tưởng đất nước của dân là tư tưởng cốt yếu trong bài đất nước của Nguyễn Đình Thi.

Đất nước của Nguyễn Đình Thi đã mang đậm tính chất lịch sử những bề dày lịch sử lâu dài gắn bó từ xưa đến nay, nó mang đậm vẻ đẹp của một dân tộc giàu truyền thống.

6. Nghệ thuật.

Tác giả đã sử dụng cái nhìn tinh tế của mình để thể hiện trong bài đất nước, nó mang đậm chất nhân văn và giàu truyền thống yêu nước của dân tộc và của ông, tư tưởng đất nước của nhân dân là tư tưởng cốt lõi trong bài thơ này.

Chuyên mục
Soạn văn 12

Soạn bài Thuốc của Lỗ Tấn văn học 12

Soan bai Thuoc cua Lo Tan – Đề bài: Em hãy Soạn bài Thuốc của Lỗ Tấn văn học 12. Bài soạn văn của một bạn học sinh tại Tuyên Quang.

1. Tác giả.

Lỗ Tấn(1881-1936) tên thật là Chu Thụ Nhân, quê ở tỉnh chiết giang Trung Quốc, ông là một nhà văn lỗi lạc của trung quốc vào những năm XX.

Tuổi trẻ ông đã phải bon chen kiếm sống bằng rất nhiều ngề trong đó có nghề khai mỏ…

2. Tác phẩm.

Thuốc là đề cập đến chiếc bánh bao tẩm máu người để cứu chữa bệnh, vào năm đó người trung quốc ai cũng muốn có chiếc bánh bao đó. Qua hình thuốc đó là chiếc bao tẩm máu người đó Lỗ Tấn muốn lộ rõ hỉnh ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người đó, đây là căn bệnh mê tín tin vào những điều rất không có thực ở trung quốc lúc bấy giờ.

3. Phân tích tác phẩm.

3.1. Hình ảnh mua bánh.

– Vào mùa thu đó Lão Hoa Thuyên đã giành dụm được chút bạc để mua thuốc,một vị thuốc được coi là chữa bệnh bách và cứu chữa được cho người con trai của mình đó là chiếc bánh bao tẩm máu người mà đương truyền chữa được rất nhiều bệnh mà ai cũng muốn có nó.Vào trong một khung cảnh tối om khi moi người vẫn đang say trong giấc ngủ lão đã đi kiếm và mua liều thuốc đó, khi đến nhìn thấy thuốc là một hiếc bánh bao đang đẫm máu, ông sợ không dám cầm những rồi quan phủ nói ông đã mừng rõ cầm, niềm vui của ông là mua được liều thuốc này, một sự thật rằng bệnh mê tín bắt đầu xuất hiện tại tin đồn chiếc bánh bao tấm máu người có thể chữa được bách bệnh.

– Căn bệnh của gia đình lão hoa thuyên là căn bệnh về tâm lý chiếc ánh bao được nướng thơm phức trong quan trà vì thương con lão đã mua nó, đây được xem như là một căn bệnh u mê phản khoa học một căn bệnh quái đản ở trung quốc lúc bấy giờ.

3.2 Nhân vật người anh hùng Hạ Du.

–    Hạ du là một người chiến sĩ cách mạng nhưng khi trong tù ngục Hạ Du được coi như một kẻ điên không ai iết đến hắn hoặc biết đến thì cũng không biết hắn con nhà ai.. một người anh hùng đã sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng nhưng khi ra đến pháp trường hắn chỉ là một con người rất tầm thường , và cái chết của Hạ Du vẫn không làm cho căn bệnh u mê của người dân bị tiêu giảm học vãn tin rằng con của Lão Hoa Thuyên ăn chiếc bánh bao có tẩm máu của người cách mạng sẽ khỏi bệnh những rồi bệnh tật cũng không khỏi, một căn bệnh thật khó chữa và nan y ở trung quốc lúc biến những người dân nơi đây thành những kẻ mê muội và lầm than.

3.3. Giữa cái chết của hạ Du và Hoa Thuyên.

–    Người dân tin rằng Hoa Thuyên sẽ khỏi khi ăn chiếc bánh bao đó những ngược lại hắn đã chết và người chiến sĩ cách mạng Hạ Du đã chết do sự mù quáng của nhân dân. Qua cái chết của hai người nhân dân trung quốc đã cảnh tỉnh và giác ngộ được lý tưởng qua cái chết của hai người này, căn bệnh này phải cần có biện pháp mới có thể thức tỉnh ngay được. Cái chết thật đau thương những rồi nó là tấm gương để cảnh tỉnh và giác ngộ.

3.4. Cảnh đi thăm mộ

– Hai cái chết đã diễn ra, nó là cái chết của sự cảnh tỉnh và sự mu muội mù quáng đã được chấp nhận bởi cái chết, và lý tưởn cách mạng nhưng do làm sai trái cũng phải chịu cái chết đó là Hạ Du. Hình ảnh Hạ Du sẽ là một điểm nhìn và là lý tưởng để mọi người theo con đường cách mạng theo con đường của tự do, cái chết của hai người để lại những ý nghĩa rất sâu sắc một là giác ngộ u mê mù quáng hai là hình ảnh người chiến sĩ Hạ Du là tấm gương để cho nhiều người đi theo con đường cách mạng.

3.4. Hình ảnh thuốc trong bài.

–    Tác giả đã rất thành công khi đặt nhan đề bài văn này là thuốc, thuốc được hiểu đơn thuần là để cứu người những trong bài này thuôc lại là một vị để giết người giết đi cái sự u mê mù quáng không bao giờ tránh khỏi của nhân dân, căn bệnh về lý tưởn cách mạng xa rời quân chúng cũng được giác ngộ qua cái chết của người chiến sĩ anh hùng Hạ Du, những căn bệnh mê muội về chính trị và u mê mê tín dị đoan cần phải được chữa trị ngay trong lịch sử Trung Quốc lúc bấy giờ.

Chuyên mục
Soạn văn 12

Soạn bài Số phận con người của nhà văn Sô Lô Khốp

1. Tác giả

– Sô lô khốp là nhà văn xô viết lỗi lạc, ông đã vịnh dự nhận giải thưởn Nobel năm 1965, là nhà văn xuất thân từ nông dân nên ông hiểu được số phận của những con người nghèo khổ, đã phải chịu những khó khăn và cả những nỗi bất hạnh trong cuộc đời.

– Tác phẩm của ông có giá trị rất lớn lao bởi phong cách viết của ông rất đặc biệt, ông viết đúng sự thật và cả những hình ảnh con người phải chịu những bất hạnh.

2, Tác phẩm

Số phận của con người là bài văn có giá trị rất xuất sắc trong nền văn học xô viết lúc bấy giờ, nó đã mở ra cho nền văn học Xô Viết một thời kì tươi sáng. Truyện có ông có một khối lượng rất khổng lồ để lại cho nó là những tình cảm sâu sắc mà tác giả đã để lại.

3. Nhân vật An – Đrây Xô Cô Lốp

a) Hoàn cảnh của ông sau chiến tranh.

– Sau chiến tranh trở về hòa vào niềm vui của ông là chiến tranh đã kết thúc và giành được hào bình, nhưng thật xót xa khi anh nhận được tin người vợ thân yêu và người con gái của anh đã bị bọn phát xít bắn chết, niềm vui chưa nguôi thì nỗi buồn lại xảy ra, sự đau xót của anh thật tột cùng biết bao, những nỗi đau mất mát đi người thân, những người thân yêu nhất đã bị chiến tranh cướp đi và giờ đây lòng căm thù phát xít trong anh ngày càng được nâng cao.

– Một niềm vui cuối cùng của anh đã bị dập tắt sau một tin báo động trời đó, cùng với lòng căm thuẫn anh đã tìm tới rượu để giảm đi bớt sầu lão của mình, quên đi đau đớn mà bản thân anh đang phải hứng chịu, anh căm ghét chiến tranh, nó đã cướp đi không biết bao nhiêu số phận con người vô tội và giờ đây là vợ và con gái của anh, nỗi buồn tinh thần đó anh không thể nào nguôi được những giọt nước mắt của anh rơi xuống minh chứng một điều rằng anh đang có một nỗi buồn tới tận cùng của con người, anh đã khóc trước mặt của bé Van i a, nỗi đau của anh không diễn tả được bằng lời mà nó nuốt đắng trong tim nghẹn ngào thành những giọt nước mắt.

– Với tinh thần anh dũng đã chiến thắng chiến tranh trở về nhưng niềm vui của anh chưa được bao lâu thì nỗi mất mát thật lướn lao đã đến anh không thể chịu được một nỗi mất mát lớn như thế này, cái giá anh phải trả quá đắt.

b) An- Đrây gặp bé Va ni a.

– Trước hoàn cảnh An –Đrây đang uống rượu thì gặp gỡ với bé Vani a, ông đã nói chuyện với cậu bé, ông đã chia sẻ những nỗi đau mà ông đã ghánh chịu do chiến tranh gây ra, chiến tranh đã cướp đi vợ và con gái của ông. Cùng với cuộc rượu và nhwunxg giọt nước mắt bé Van ni a hiểu được sự mất mát của ông bởi lẽ cậu cũng là một nạn nhân chiến tranh đã cướp đi người thân của cậu, hai người tưởn chừng như chung một số phận, chia sẻ những buồn đau mất mát của mình từ đó ông nhận cậu bé làm con nuôi.

– Một tâm hồn đồng điệu và thấu hiểu cho hoàn cảnh của cậu bé, mất đi tình mẫu tử cậu không còn ai trên đời này nữa, ông nhìn thấy bộ dạng đáng thương của cậu bé nên đã rủ lòng cảm động và thương xót mong muốn được nuôi dưỡng cậu bé vì vậy ông đã nhận cậu bé này làm con nuôi, ông muốn mình có trách nhiệm với cậu bé này, ông quả thật là một người có một tấm lòng nhân hậu, bao dung ông đã che trở cho những con người có số phận bất hạnh như mình, và đây đều là những nạn nhân của chiến tranh gây nên.

– Thái độ của cậu bé khi được ông nhận làm con nuôi, cậu bé mừng rỡ, ôm và hôn anh, đây là chi tiết cảm nhận được sâu sắc của tình mẫu tử tình thương của người cha sẽ che đi những lạnh lẽo trong tâm hồn những đưa trẻ vô tội. Chi tiết này đã làm cho tác phẩm trở nên ý nghĩa hơn, sức mạnh của tình yêu thật bao dung ấm áp nó có thể che đi những đau đớn mà cậu bé đang phải chịu.

– Với tình thương vô bờ bến ông đã bù đắp thiếu hụt tinh thần cho cậu bé, chăm sóc cậu như chăm sóc chính người con ruột của mình, chiến tranh gây ra bao đau thương mất mát giờ đây là giây phút mà ông có thể bù đắp cho cậu bé khỏi những lo sợ, bảo vệ cậu thoát khỏi những lạnh lẽo trong tâm hồn của cậu bé.

c. Tinh thần trách nhiệm cao cả và nghị lực phi thường của Xô Cô Lốp.

– Những đau đớn trong quá khứ trong ông chưa nguôi ông lo lắng về mọi điều sẽ xảy đến bất ngờ khi ông chăm sóc cậu bé Va ni a, ông sợ quá khứ sẽ lập lại với ông một lần nữa một hình ảnh cậu bé bỏng ông không thể làm tổn thương đi tâm hồn của cậu bé, những khó khăn của ông vẫn chưa hết, ông lo lắng và mong muốn rất nhiều những điều tốt lành sẽ đến với cậu bé.

– Nhưng rồi ông không chịu khuất phục số phận ông luôn cố gắng vươn lên chăm lo tốt cho cậu bé bù đắp cho cậu bé những tình cảm đã mất.

– Ông là một người có trách nhiệm và lòng bao dung sâu sắc ông là một tấm gương sáng cho lòng nhân hậu và bao dung.

2. Chất trữ tình trong tác phẩm.

– Bài đã thể hiện được sâu sắc tình cảm của Xô Cô Lốp và Va ni a, bài văn đã rất xuất sắc khi đưa ra những tình huống những chi tiết rất đặc sắc đi sâu vào tâm hồn của người đọc, bài đã thành công trong lối kể truyện truyền cảm và đầy cảm xúc, tác giả đã xây dựng nhân vật phù hợp với hoàn cảnh, và những chi tiết đặc sắc trong bài đã làm bật lên chủ đề nhân đạo trong tác phẩm, chi tiết giọt nước mắt của người cha đã bộc lộ rõ những chi tiết trữ tình trong bài.

3. Đặc sắc nghệ thuật:

Bài đã miêu tả chân thực được số phận của những con người đau khổ, phải chịu những mất mát do chiến tranh gây nên, kiểu kể truyện hấp dẫn có đan xen người kể chuyện là nhân vật đã tạo nên một hấp dẫn đáng kể trong lòng người đọc, nhiều hình ảnh và tình huống hấp dẫn qua đó bộc lộ tính cách của nhân vật.

Chuyên mục
Soạn văn 12

Soạn bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi văn 12

1. Tác giả.

– Nguyễn Đình Thi: là nhà văn nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng của văn học Việt Nam, ông đã có rất nhiều những đóng góp lớn lao trong nền văn học Việt nam, với giọng điệu riêng ông đã tạo nên cho mình một phong cách độc đáo dễ đi sâu vào lòng người.

– Ông đã có rất nhiều những đóng góp lớn và thành tựu của ông đã góp phần tạo nên một bản hùng ca về cuộc kháng chiến chống quân xâm lược.

2. Tác phẩm.

– Do tình yêu quê hương đất nước cùng với lòng căm thù quân giặc ông đã viết lên bài đất nước để thể hiện được tình yêu quê hương đất nước của mình, qua đó cũng lột trần được bộ mặt xấu xa tàn ác của kẻ thù.

3. Bố cục của bài thơ gồm 3 phần:

–    Phần 1: 7 câu đầu tác giả đã nêu được những khung cảnh hùng vĩ trong mát của mùa thu Hà Nội.

–    Phần 2: 14 câu thơ tiếp: Mùa thu ở Việt Bắc, tác giả so sánh với mùa thu ở Hà Nội.

–    Phần 3: Trong chiến tranh bom đạn nhưng đất nước vẫn rũ bùn đứng dậy sáng lòa hình ảnh đất nước anh hùng, đứng lên sau đau thương.

4. Tìm hiểu bài .

4.1 Hình ảnh mùa thu Hà Nội trong mắt tác giả.

–  Tiết trời ở Hà Nội vào mùa thu rất mát mẻ, buổi sáng tác giả đã cảm nhân được những vị ngọt ngào trong suốt của không khí, và hòa vào những mùi hương cốm của những người đi bán cốm hòa quyện vào trong bầu không khí đó là cảm giác nâng nâng.

Tác giả như đang hòa mình vào một không khí lãng mạn của tiết trời mùa thu, buổi sáng sớm cùng với một tiết trời dễ chịu làm cho con người khắc khoải .

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.

– Những chiếc lá rơi trên phố đã làm cho tác giả nhớ lại hình ảnh một Hà Nội thân thương vẫn buổi sáng hôm đấy trên những phố lao xao hơi may hòa vào là những làn gió heo hút và những chiếc lá rơi xào xạc, mùa thu là mùa của cây cối rụng lá những chiếc lá bay bay trên những con phố dài của Hà Nội.

– Trong tâm trí của tác giả đang hồi kể lại những khoảnh khắc mà mình đã được chứng kiến những làn gió hơi may, cùng với những cơn gió se lạnh, lòng man mác một nỗi nhớ thương nỗi nhớ về màu thu ở Hà Nội.

– Người ra đi dù rất nhớ thương những không ngoảnh lại sau nhữngcảm giác đó là một nỗi buồn da diết.

4.2. Mùa thu ở Việt Bắc.

– Cảm giác của tác giả khi nớ lại mùa thu ở Hà Nội làm cho ông vẫn có những lưu luyến bâng khuâng, khi đây mùa thu nơi Việt bắc đã khác so với mùa thu ở Hà Nội, cảnh vật nơi đây không chỉ còn là những chiếc lá rụng bên lề phố nữa mà không gian tác giả đang đứng nó cao hùng vĩ và có thể ngắm khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ hơn.

– Mùa thu ở Việt Bắc cùng với những cảnh vật thiên nhiên của núi đồi, những cảnh vật gần gũi với con người Việt Nam đó là hình ảnh rừng tre phấp phới, tác giả hình dung lại và tưởng tượng rừng mùa thu năm nay khác rất nhiều so với mùa thu mà tác giả đã chứng kiến ở Hà Nội.

Gió thổi rừng tre phấp phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha!

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

– Không gian rộng lớn làm cho tác giả cũng cảm thấy thoáng đãng, mùa thu nay đã thay áo mới nó không chỉ còn là những nỗi buồn man mác nữa mà nay đã khác cảm giác của tác giả vui vẻ hơn, hòa mình vào những cánh đồng thơm ngát và những dòng sông trở nặng phù xa, mùa thu ở nơi đô thị phồn hoa khác so với mùa thu ở Việt Bắc, những cảnh vật ở Việt bắc làm cho con người ta bớt đi cảm giác chênh vênh và những nỗi buồn không tên.

– Tiếng nói tiếng cười đã vang rội thiết tha trong không gian nơi đây, những cảnh vật thiên nhiên đó là của con người Việt Nam, tác giả đã vẽ ra một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và mang đậm nét quê hương nó tạo ra cho con người cảm giác gần gũi và quen thuộc.

4.3. Đất nước đứng lên sau đau thương.

– Tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm của nhân dân Việt nam, một đất nước anh hùng, vẫn mang đậm những nét văn hóa dân tộc, dù chiến tranh bom đạn những tinh thần của những người chiến sĩ này vẫn ung dung và lạc quan yêu đời, trong khung cảnh những đồng quê chảy máu, những khu chiến đấu tan thương giờ đây chỉ còn là những xác chết và cả những người chiến sĩ đã nằm xuống nhưng đó không làm cho người dân của chúng ta khuất phục tinh thần vẫn nung nấu trong những buổi hành quân:

Nước những người chưa bao giờ khuất

Ðêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về!

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.

Từ những năm đau thương chiến đấu

Ðã ngời lên nét mặt quê hương

Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu

Ðã bật lên những tiếng căm hờn

Sự căm thù luôn đun nấu tâm can trong lòng mỗi người chiến sĩ của chúng ta, trong những buổi hành quân đó họ vẫn luôn nhớ về quê hương, những hình ảnh quen thuộc làm cho họ bật lên những căm thù.

Những nỗi đau của sự mất mát, đã hòa vào cuộc sống của họ, những bát cơm chan đầy nước mất khi người thân của họ mãi mãi ra đi.Họ căm thù những tên cướp nước hại dân, dù có bom đạn như thế nào, thì với lòng yêu nước thương nhà chúng ta cũng có thể đánh đổ bọn chúng:

Bát cơm chan đầy nước mắt

Bay còn giằng khỏi miệng ta

Thằng giặc Tây, thằng chúa đất

Ðứa đè cổ, đứa lột da…

Xiềng xích chúng bay không khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay không bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà!

Đất nước anh hùng một đất nước đã biết đứng lên sau bao đau thương, những người lính áo vải kiên cường cùng với một tấm lòng yêu thương dân họ vẫn hiên ngang bảo vệ đất nước, mỗi bước đường của những người chiến sĩ đều cố gắng để lo cho cuộc sống của nhân dân, sự hy sinh to lớn đó đã góp phần làm cho đất nước thêm thanh bình ấm no, trong lòng mỗi người chúng ta đều rất tự hào về lịch sử của dân tộc những người lính áo vải kiên cường, bất khuất:

Khói nhà máy cuộn trong sương núi

Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng

Ôm đất nước những người áo vải

Ðã đứng lên thành những anh hùng.

Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội

Mỗi bước đường mỗi bước hy sinh

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta bát ngát ánh bình minh.

Dù trong bom lửa nhưng người Việt Nam vẫn rũ bùn đứng dạy sáng lòa, biết vượt khỏi đau thương để vươn lên tự do độc lập, niềm hạnh phúc đó thật là vô bờ bến, khi một đất nước nô lệ suốt mấy nghìn năm nhờ có những người chiến sĩ anh hùng đã quật khởi đất nước lên thành những người anh hùng. Từ trong bom đạn mỗi người chiến sĩ đều ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với đất nước, đến với sự nghiệp to lớn của đất nước chiến đấu để giữ được nền độc lập tự do cho dân tộc:

Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng loà.

Tội ác của kẻ thù sẽ bị ngàn đời phê phán, những tấm gương sáng sẽ được vinh danh đến muôn đời, mỗi người chúng ta luôn sống và cần phải có trách nhiệm với dân với nước như vậy mới xứng đáng là con người Việt Nam.

5. Nghệ thuật.

– Với con mắt tinh tưởng của tác giả tác giả đã vẽ lên những bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ và những vị anh hùng đứng lên bảo vệ độc lập tự do của tổ quốc, bằng giọng văn đanh thép đã lột tả sâu sắc được tội ác của kẻ thù.

Chuyên mục
Soạn văn 12

Soạn bài Truyện Kiều của Nguyễn Du văn lớp 12

1. Tác giả

–    Nguyễn Du: tên hiệu là Tố Như, ông là nhà văn nhà thơ lớn của văn học Việt Nam, ông xuất thân từ một gia đình có truyền thống hiếu học, ông đỗ đạt và làm quan.

–    Ông đã có những đóng góp vô cùng lớn lao tới sự nghiệp văn chương của mình.

2. Tác phẩm

Nhắc đến truyện Kiều không ai không biết đến Nguyễn Du, đây là một tác phẩm có giá trị rất sâu sắc nó đã nêu lên hiện thực xã hội lúc bấy giờ và tác giả cũng nêu lên giá trị nhân đạo trong tác phẩm của mình.

3. Bố cục:

Chia làm 3 phần :

Phần 1: Gặp gỡ và đính ước

Phần 2: Gia biến và lưu lạc

Phần 3 : Sự đoàn tụ

4. Tìm hiểu chung

4.1 . Giá trị hiện thực trong tác phẩm

Số phận của Kiều hồng nhan bạc mệnh, Kiều đã lâm vào một bi kịch đau thương cuộc đời của Kiều trôi nổi, vừa rơi vào bi kịch phải cha người cha yêu quý của mình vừa phải xa Kim Trọng, những bi kịch dồn dập luôn bủa vây lấy cuộc đời Kiều.

Chưa được sống bên người cha của mình được bao lâu thì Kiều bị bắt đến lầu xanh, cuộc đời của Kiều liên tiếp gặp phải bao khó khăn trắc trở, mối tình của nàng cũng bị bỏ dở.

Một mình trong chốn lầu xanh nàng chỉ biết làm bạn với thiên nhiên, trăng bên ngoài thiên nhiên làm bạn, những lúc bẽ bàng trước những cánh đèn dầu, tâm trạng của nhân vật thật buồn dầu và cô đơn khi cuộc đời Kiều gặp bao sóng gió, tâm hồn Kiều bị trà đạp, một người con gái tài đức vẹn toàn những lại có một số phận hẩm hiu, Kiều bị chế độ phong kiến xưa trà đạp.

Qua những hình ảnh Thúy Kiều bị trà đạp đó chúng ta biết được hiện thực xã hội lúc bấy giờ một hiện thực xã hội thối nát, con người không được quyền sống tự do hạnh phúc mà luôn phải chịu những đau đớn cả về thể xác và tinh thần.

Truyện Kiều là một bài có giá trị tố cáo sâu sắc nó đòi công lý và quyền sống cho con người, những tình yêu đẹp phải được đáp ứng đúng mức, Kiều và Từ Hải đã phải vượt qua bao nhiêu rào cản của xã hội phong kiến để yêu nhau thế những cuộc đời bấp bênh vẫn đưa hai người đó gặp trắc trở và bao khó khăn.

Thúy Kiều là hiện thân của một chế độ luôn bị sự chà đạp, còn Từ Hải hiện thân một một vị anh hùng, có khát vọng trả ơn báo oán, truyện kiều là 1 tác phẩm đã bộc lộ rõ những hình ảnh hiện thực sâu sắc, nó góp phần tố cáo cái chế độ tàn ác bù nhìn, để cho những tên quan lại những kẻ xấu xa trà đạp lên con người.

Truyện Kiều cũng là một bản án tố cáo cái chế độ phong kiến suy tàn, xã hội bị thế lực đồng tiền chi phối, chế độ đấy đã gây ra biết bao đau thương cho những con người vô tội, nó cướp đi hạnh phúc lứa đôi, và cả tình cha con mẫu tử.

Nguyễn Du đã rất sáng suốt khi viết lên tác phẩm này, ông đã tố cáo những bọn buôn thịt bán người những tên tổng đốc bất tài, những tên quan lại thối nát. Tất cả những điều này đều bị thế lực đồng tiền chi phối.

Qua những hành động đó ta có thể thấy được một hiện thực xã hội lúc bấy giờ hàng loạt những từ mà Nguyễn Du miêu tả đã làm bật lên cái chủ đề trong tác phẩm này: ngồi tót… hàng loạt những từ ngữ đã bộc lộ lên những con người thiếu đạo đức, thiếu nhân tính của bọn quan lại thối nát, bọn bán nước hại dân.

-Mở đầu tác phẩm đó là cảnh gặp gỡ với của Thúy Kiều và Kim Trọng, cảnh gia biến gặp nhau những điều này diễn ra không lâu thì bị cái thế lực

4.2. Giá trị nhân đạo của tác phẩm.

–  Đề cao phẩm chất của con người, qua những giá trị hiện thực ấy vừa tố cáo tội ác của bọn buôn thịt bán người vừa tỏ ra tấm lòng thương xót đối với những người phụ nữ có số phận hồng nhan bạc mệnh luôn bị kẻ xấu trà đạp.

–  Khát vọng đòi lại chân lý sống và niềm khát khao hạnh phúc của con người được thể hiện mạnh mẽ trong tác phẩm này.

– Số phận của Kiều đã được Nguyễn Du miêu tả rất sâu sắc qua bài, đây là một con người điển hình bị trà đạp trong xã hội cũ những tâm trạng bẽ bàng và hàng loạt những hành động tâm trạng khác đã làm bật lên cái bất hạnh của một con người luôn bị bóc lột.

4.3. Giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

–  Nguyễn Du đã rất tài hoa khi mượn những hình ảnh thiên nhiên để nói lên được tâm trạng của Kiều, những hình ảnh đặc sắc trong bài đã làm tăng giá trị nhân đạo và phẩn ánh sâu sắc được giá trị hiện thực của tác phẩm.

– Thể thơ lục bát,tác giả đã sử dụng hàng loạt những từ ngữ láy để nhấn mạnh mức độ độc ác của cái chế độ cũ.

=> Nguyễn Du là một người rất tài hoa, tác phẩm của ông có giá trị lớn cho cả một nền văn học Việt Nam.

Chuyên mục
Soạn văn 12

Soạn bài Ông già và biển cả của Hê-minh-uê văn lớp 12

1. Tác giả.

–  Hê minh uê là một người trí thức được sinh ra tại Hoa Kì. Ông đã làm rất nhiều nghề khi bước chân ra khỏi trường đại học ông đã làm nghề phóng viên.

–  Ông là một người rất tài năng, số lượng đề tài về văn thơ của ông rất lớn: truyện thuyết, tiểu thuyết, hồi kí …

– Ông là một nhà văn mĩ vĩ đại nhất ở thế kỉ XX, và nhiều giải thưởng cao quý khác như giải Noben ở Mĩ…

2. Tác phẩm.

– Bài ông già và biển cả là một tác phẩm tiêu biểu trong sáng tác của Hê minh uê. Ông là một người có nguyên lí sáng tác là văn chương như một tảng băng, nhà văn nhấn mạnh vào ý nghĩa hàm xúc, và những mạch ngầm của văn bản.

3. Bố cục của tác phẩm.

– Tác phẩm chia làm 2 phần:

+ Phần 1: Từ mặt trời đang mọc đến nước bắn tung tóe lên cả ông lão và còn thuyền.

+ Phần 2: Còn lại: nói về Xan ti a gô đưa con cá trở về.

4. Hình tượng con cá kiếm.

– Một con cá khổng lồ, với bao nhiêu sức mạnh to lớn, cuộc đấu tranh giữa ông chàng thanh niên và con cá là một cuộc đấu tranh quyết liệt. Sức mạnh của con cá kiên cường, nó lớn và có khối lượng thật khổng lồ, bao trông gai của thiên nhiên ông lão vẫn chiến thắng.

– Các chi tiết miêu tả con cá: cái đuôi lớn hơn cả cái lưới hái lớn. Cái đuôi màu tím, và màu xanh được biển, thân hình đồ sộ và cả những vạch dọc người của nó.

Sức mạnh của con cá vô cùng lớn ban đầu khi ông lão thả lưới con cá không có chút bị ảnh hưởng nào những chính sự kiên trì của ông, con cá đã dần mắc lưới.

=> Con cá kiếm tượng trưng cho sức mạnh nghiệt ngã của thiên nhiên, những thử thách khó khăn mà con người phải đối mặt và vượt qua,đây tượng trưng cho những dào cản khó khăn mà con người luôn phấn đấu vượt qua để đạt được mục đích.

5. Hình tượng ông lão đánh cá.

– Ông là một người có sức mạnh lớn để chinh phục thiên và thử thách, ông là một người biểu hiện cho lòng kiên trì dám đối mặt và vượt qua những thử thách trông gai, ông là điển hình cho những con người có lý tưởng lớn, một mình ông đã chinh phục được sức mạnh của thiên nhiên nghiệt ngã đó.

– Ông là điển hình và tiêu biểu cho những con người có lý tưởng sống cao đẹp, ông đã biết chinh phục thiên nhiên nhờ có lòng dũng cảm và ý chí kiên cường của mình.

– Những hình ảnh của ông lão đánh cá trong cuộc đấu tranh với con cá kiếm: với những chi tiết đặc sắc ở đầu tác phẩm chúng ta thấy được sức mạnh to lớn của con cá kiếm khi ban đầu ông lão kéo lưới, con cá vẫn bơi chậm dãi và không chút khó khăn, sự vật lộn của con cá cũng đủ làm cho ông lão mệt đến thấu xương thấu thịt.

Lúc đó ông lão đã cảm thấy mệt mỏi và đuối sức những bản thân ông không cho phép mình bỏ cuộc ông đã tự khích lệ bản thân mình nên kiên trì và cố gắng.

– Ông đã nghỉ ra những chiêu trò để điều khiển con cá, sự nhanh trí và với bản lĩnh của ông, ông vẫn có thể chinh phục được sức mạnh của nó. Qua đây chúng ta thấy được dù có khó khăn và vất vả như thế nào, nếu có lòng tin và sự kiên định con người vẫn có thể vượt qua những khó khăn đó, bằng chính sức mạnh sự thông minh biết điều khiển mọi hành động của kẻ thù…

– Những vòng tròn đã quyết định sự chiến thắng của ông lão, ông luôn cố gắng để chờ lấy cơ hội để phản công và giành chiến thắng, khi con cá mắc vào một đòn đau và dần đuối sức ông vẫn chờ để tung một đòn quyết định.

7.Hình ảnh ông lão mang cá trở về.

– Cuộc vật lộn và đấu tranh với nó đã vô cùng cực khổ, nay mang nó về cũng là một giai đoạn vô cùng khó khăn không hề đơn giản chút nào, ông luôn tự động viên chính mình, hãy tỉnh táo đi ông già … hàng loạt những lời động viên của ông đã được sử dụng nhằm khích lệ tinh thần chiến đấu kiên cường của ông.

– Kinh nghiệm đánh bắt lâu đã giúp ông có thể mang con cá về, ông phải mang thuyền lại chỗ nó nồng dây vào miệng nó, những hành động đó thể hiện sự kiên trì, một con người đã có nhiều kinh nghiệm trong việc đánh bắt.

– Trải qua một cuộc chiến đấu căng thẳng với con cá ông đã mệt nhoài về thể xác nay đã đói meo, lưng đau.. những với kinh nghiệm của ông, thì công việc này cũng đơn giản ông ăn tôm sống và uống mấy ngụm nước, một người rất dày dặn kinh nghiệm như ông đã đối mặt với hết thử thách này đến thử thách khác ông kiên trì và đấu tranh với những nghiệt ngã mục tiêu ông đưa ra ông đã cố gắng để hoàn thành nó.

– Sự kiên trì và nhờ có lý tưởng sống mà ông đã đặt ra ông lão đánh cá đã lập được kỉ lục lớn cho bản thân mình, trong suốt quá trình đánh bắt ông luôn ao ước sẽ đánh được con cá lớn, chính vì vậy chính sự kiên trì đã giúp ông thực hiện được ao ước như vậy.

8. Đặc sắc nghệ thuật

– Với những hình ảnh miêu tả sự đấu tranh kiên cường của ông lão với con cá kiếm đã khắc họa thành công được hình tượng chân dung của một người có lý tưởng sống lớn.

– Với nguyên lý “tảng băng trôi” ông đã rất thành công trong sự nghiệp văn chương của mình, trong bài này phần nổi lag hành trình chiến đấu của ông lão với con cá kiếm, phần chìm là qua đó nêu lên được sức mạnh to lớn của tác giả đối với mục tiêu và thể hiện một con người kiên trì có tài năng.

– Bài viết đã là một bài học vô cùng quý báu cho con người, mỗi chúng ta cần có lòng kiên định đấu tranh với lý tưởng để đạt được mục đích sống lớn.

Chuyên mục
Soạn văn 12

Soạn bài Mùa Xuân của Nguyễn Bính văn lớp 12

1. Tác giả.

– Nguyễn Bính: là nhà thơ của làng quê Việt Nam, ông sinh ra và lớn lên ở tỉnh Nam Định với tấm lòng yêu thiên nhiên của mình ông đã viết lên rất nhiều những tác phẩm đậm đà và mộc mạc mang đậm vóc dáng quê hương của tổ quốc.

– Những đóng góp của ông rất lớn: ông trở thành một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam.

2. Tác phẩm.

– Bài thơ mùa xuân: là cảm hứng của Nguyễn Bính với mùa xuân của thiên nhiên đất nước, ông luôn sáng tác những tác phẩm có giá trị và để lại cho đời những bài thơ hay và ý nghĩa .

3. Bức tranh thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bính.

– Những hình ảnh quen thuộc ở quê hương đã được tác giả miêu tả rất chi tiết và đặc sắc, nhân vật em là người đang dệt trong khung cửi với người mẹ già, những hình ảnh quen thuộc của con người Việt Nam, những người con gái đó đã dệt lên những mảnh vải, những chiếc áo có giá trị rồi để bán và lấy tiền tính kế sinh nhai.

– Hình ảnh hoa xoan bên ngõ, mùa xuân là mùa của cây cối đâm chồi nảy lộc, những làn gió se lạnh làm cho những cành hoa xoan rụng, những hình ảnh đẹp của thiên nhiên được tác giả miêu tả rất đặc sắc, những cảnh thiên nhiên gần gũi với người dân Việt Nam là hoa xoan, trong xã hội xưa những gánh hát chèo là một thể loại rất quen thuộc, những điệu hát hò và cả những điệu ca của hội chèo làng Đặng đã đi qua ngõ,  nhân vật mẹ ở đây đã nói thôn đoài hát tôi nay như một lời thông báo cho người con của mình biết.

– Sau những giờ lao động mệt nhoài con người có thể hòa mình vào thiên nhiên để ngắm những thú vui của thiên nhiên hùng vĩ thơ mộng, và hàng vạn những sinh hoạt cộng đồng cũng làm cho con người có cảm giác ấm cũng và quen thuộc hơn.

4. Tình yêu của nhân vật anh đối với cô gái.

– Tác giả đã miêu tả những sợi giăng tơ đây được coi như là cầu nối giữa những người yêu nhau, ở đây nó được coi là sợi chỉ đỏ kết nối hai người đến với nhau, chàng trai đã yêu thầm cô gái nhưng sự tế nhị trong yêu đương của người xưa đã thể hiện một cách tình tứ.

– Sự e thẹn của người con gái với nhân vật anh, hình ảnh má bừng đỏ, thể hiện sự ngại ngùng của người con gái khi bộc lộ tình cảm của mình, tình yêu của hai người như một sự kết nối họ lại gần nhau hơn, những cách thể hiện của họ không cồn cào mà rất tình tứ.

– Người con gái luôn có cách thể hiện tình cảm của mình một cách tình tứ và thơ mộng, khi hàng xóm đã lên đèn thì người con gái đó vẫn có những hành động ngửa bàn tay trước hiên nhà..mong chờ người con trai đó tới thăm, những hành động đó thể hiện một tình cảm của người con gái với chàng trai những cách thể hiện của cô gái đã thể hiện được một nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa rất tình tứ và tế nhị.

–  Khoảng cách của hai người không xa nhau, những sự dịu dàng của cô gái đã làm cho chàng trai có những cái nhìn rất sâu sắc, sự tế nhị của cô gái đã được tác giả miêu tả trong cuộc nói chuyện với người mẹ, những lời nói nhẹ nhàng của người mẹ muốn nghe về câu chuyện tình cảm của cô con gái của mình.

– Sự gặp gỡ giữa hai người: những lời nói lịch sự xin phép mẹ khi đi gặp chàng trai, khoảng cách địa lý của hai người không xa, và đó cũng là một điều kiện thuận lợi để hai người gặp gỡ nhau.

– Khung cảnh trong cuộc gặp gỡ: lấy cớ là đi xem hát nhưng thực thì hai người muốn hẹn hò với nhau những sự tế nhị của hai người đã bật lên những lời nói nhẹ nhàng, mãi tìm anh mà không xem hát, nhớ nhung nhân vật anh và mong rằng nhân vật anh cũng nhớ nhung tới mình, và những lời hẹn ước rất sâu sắc của tác giả.

– Sự mong chờ của cô gái với chàng trai: ngóng chông đợi chờ nhưng chàng trai không tới, sự tuyệt vọng và buồn của cô gái đã thể hiện rất sâu sắc, những lời hò hẹn nay đã bị nhỡ cô gái buồn và ngóng chông, một mùa xuân tươi đẹp nhỡ nhàng vì nhân vật anh.

– Sự cô đơn của nhân vật em đã làm cho tâm trạng và cảm xúc của bài thơ thêm buồn rầu và có những khoảng nặng, tác giả vẽ hình ảnh cô gái, lầm lụi một mình, cô đơn buồn tủi trong cảnh đêm khuya thật buồn man mác trên đường về, những hạt mưa nặng đã thêm sầu với cảnh đêm khuya sự lầm lũi và những đêm canh khuya man mác buồn.

– Sự giận hờn của em với anh, sự lỡ hẹn đã làm em buồn, nhưng khi mẹ hỏi em đã không che dấu được cảm xúc của mình nước mắt tràn ra đó là một nỗi buồn thầm kín, bao đêm cô đơn của em đã làm cho cảm xúc đi xuống tột độ nay chỉ một lời nói nhỏ cũng đủ để em phải đau đớn xót xa.

– Vẫn những hình ảnh hoa xoan trước ngõ với những bước đi đã nát đầy, mùa xuân vẫn ở đó những em và anh thì không gặp nhau, người con gái mong chờ có ngày sẽ gặp lại anh trên mùa xuân của quê hương đấy nước, vẫn những hình ảnh ban đầu của bài thơ nhưng một lần nữa tác giả lại nhấn mạnh nó để làm tăng sự cô đơn nỗi nhớ mong của nhân vật em.

5. Đặc sắc nghệ thuật.

– Với những hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên tác giả đã bộc lộ sâu sắc được cảm xúc của nhân vật em nỗi nhớ nhung tới người yêu.

– Với những ngôn ngữ giản dị quen thuộc tác giả đã vẽ ra một bức tranh thiên nhiên mang đậm bản chất dân tộc, với những hình ảnh thiên nhiên sâu sắc tác giả đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên buồn xen vào tâm trạng đợi chờ của người con gái.

Chuyên mục
Soạn văn 12

Soạn bài Rừng Xa Nu của Nguyễn Trung Thành lớp 12

1. Tác giả.

– Nguyễn Trung Thành: bút danh là Nguyên Ngọc, sinh ra và lớn lên ở Quảng Nam, ông là nhà văn lớn của dân tộc Việt Nam, ông có rất nhiều những đóng góp lớn lao cho nền văn học Việt Nam.

2. Tác phẩm.

– Tác phẩm của ông tiêu biểu cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong nhưng năm tháng kháng chiến ác liệt ông đã viết lên bài Rừng Xà Nu.

– Tác phẩm nói lên tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân làng Xô Man, và những hy sinh bất khuất của những người chiến sĩ, sức mạnh kiên cường của con người Tây Nguyên.

a. Nhân vật Cụ Mết.

– Là trưởng làng của làng Xô Man là một người có tiếng trong làng, ông là một người hơn 60 tuổi, nhưng vẫn có một thân hình khỏe mạnh và thân hình vững chắc, ông là một mẫu hình lý tưởng của con người làng Xô Man, mọi người trong làng đều yêu quý và kính trọng ông bởi ông là một người có kinh nghiệm và là một người có đức trong làng.

– Là một người có uy tín nên được mọi người rất kính trọng mỗi khi ông nói mọi người đều lắng nghe và tiếp thu bởi những gì ông làm đều xuất phát từ lợi ích của làng Xô Man, ông có rất nhiều những hành động đáng quý:nhường muối cho người đau, coi T Nú là con trong nhà và đãi những món ăn ngon của quê hương.

Ông là người luôn tin tưởng vào cách mạng: nuôi ngầm bộ đội trong 5 năm, T Nú là nhân vật đó, ông giáo dục T Nú là một cán bộ yêu nước, và biết giữa truyền thống dân tộc.

– Ngoài ra cụ cũng giáo dục cho cả làng Xô Man: “ Cán bộ là đảng, đảng còn, nước còn”. Những lời căn dặn của cụ Mết nhằm tin tưởng một điều với đảng với dân, cụ là một người có công rất lớn trong làng Xô Man.

b. Nhân Vật T Nú

– Là một thanh niên trẻ, được cụ Mết dậy dỗ và trở thành một người chiến sĩ yêu nước anh là biểu hiện cho lòng dũng cảm, và hiện thân cho thế hệ trẻ dũng cảm ở làng Xô Man.

– Là một kiên cường trung thực cũng rất trung thành với sự nghiệp của Đảng và một lòng trung thành với đất nước.

– T Nú là một người rất kiên trì từ hồi nhỏ đã cùng Mai tiếp tế cho cán bộ và là người đưa thư, mang trí lớn vững bền từ hồi nhỏ, khi học chữ không học được đã dùng đá đập vào đầu, ..sự kiên trì của T Nú thể hiện qua rất nhiều những hành động của anh, khi bị bọn gặc bắt bị tra tấn dã man những vẫn không khai.

– Một người dũng cảm và kiên trì cho dù chết cũng không khai ra những người hoạt động cách mạng, khi thoát được tù ngục anh vẫn tham gia vào hoạt động và trở thành một mẫu người lý tưởn cho mọi người học tập và noi theo.

Một người sống có lý tưởng luôn hết mình vì Tổ quốc, anh là một người có chí lớn khi bị những tên giặc xấu xa đốt hết 10 ngón tay anh vẫn chịu đựng, sự chịu đựng của anh thật đáng khen ngợi.

– Được cụ mết nuôi từ nhỏ, anh cũng là người luôn hết lòng vì dân, anh theo cụ mết đi nuôi những người cán bộ từ đó trong anh cũng nảy sinh ra mình cần là một người cán bộ yêu nước, khi lớn lên anh lập gia đình tên giặc đã giết chết những người thân của anh.

Sự đau đớn đó đã biến thành một sức mạnh của việc trả thù cho đất nước và cho người thân của mình, anh tham gia vào quân đội và giết chết tên chỉ huy trong hầm cố thủ của hắn. Sự căm thù đó xuất phát từ lòng yêu thương vợ con và là một người chiến sĩ yêu nước.

– Tình yêu của Mai và T Nú: hai người là những người đồng đội lớn lên cùng nhau và trải qua nhiều khó khăn, khi T Nú bị bắt vào ngục tù mai đau khổ, và khi thoát được thì Mai lại dung dung những giọt nước mắt thường T Nú, những hy sinh mất mát của T Nú đã để lại những day dứt trong lòng người đọc, T Nú hy sinh đôi bàn tay của mình, bàn tay đó là bàn tay của sự kiên trì một ý chí quyết tâm, lòng dũng cảm.

– Một người chiến sĩ như T Nú đã biểu hiện cho sức mạnh của cả làng Xô Man, những cây xà nu đứng vững chắc cũng giống như T Nú dù có gặp muôn vàn khó khăn mất mát những một lòng vẫn luôn cố gắng vì đất nước.

c. Dít và Heng và dân làng Xô Man.

– Là những người làng Xô Man và đều là những người yêu nước, đây là những con người luôn luôn vì đất nước và sự an nguy của làng xô man.

– Dân làng Xô Man cũng là những con người có tấm lòng yêu nước, luôn đoàn kết gắn bó với nhau để bảo vệ sự an nguy của làng Xô Man, được Cụ Mết dạy cho nhiều điều nên trình độ hiểu biết và nhận thức cũng được tăng lên, khi thấy người chiến sĩ T Nú trở về thì họ rất vui mừng.

Họ là hiện thân cho những rừng xà nu vững chắc họ kiên cường bất khuất và luôn gắn bó đồng lòng với nhau để đánh thắng được kẻ thù. Khi quân giặc đến thì bất kì ai cũng đều chiến đấu hết mình…

d. Hình tượng rừng Xà Nu.

– Rừng xà nu là hiện thân của sức mạnh của người dân làng xô man, nó vừa là những hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ vừa mang ý nghĩa tượng trưng cho sức mạnh của cả dân tộc làng Xô Man, tác giả đã rất sâu sắc khi mở đầu tác phẩm bằng hình ảnh rừng xà nu.

Rừng xà nu vẫn đứng hiên ngang khi bị quân giặc xả bom nó cũng giống như tinh thần và sức mạnh của người dân Xô Man. Quân giặc có tra tấn dã man như thế nào thì sự kiên trì và sức mạnh to lớn củ T Nú cũng không bị đánh gục.

– Cây xà nu gắn bó mật thiết với làng xô man, từ những vật dựng quen thuộc như củi, hay những ngọn đuốc để những người cách mạng học tập. Sức mạnh to lớn của cây xà nu khi bị giặc đánh bom một cây gục ngã thì tiếp đó lại có 4, 5 cây mới mọc, nó hiên ngang đứng vững để che trở cho người làng Xô Man.

4. Đặc sắc nghệ thuật.

– Tác phẩm đậm chất sử thi, bài đã nói lên tinh thần dũng cảm của người dân Xô Man, nó là hiện thân của cả một dân tộc gắn bó mật thiết và đoàn kết với nhau để chống kẻ thù xâm lược.

– Nghệ thuật kẻ truyện và hàng vạn những chi tiết đặc sắc đã nêu bật được tinh thần dũng cảm cũng như vẻ đẹp của con người làng Xô Man thông qua hình tượng cây xà nu.

– Tác giả đã thể hiện rất sâu sắc được hình tượng người anh hùng Xô Man thông qua rừng Xà Nu cũng nói về sức mạnh to lớn của cả một dân tộc