Chuyên mục
Soạn văn 8

SOẠN BÀI HAI CÂY PHONG ( Trích Người thầy đầu tiên của Aitmatov)

SOAN BAI HAI CAY PHONG – SOẠN BÀI HAI CÂY PHONG ( Trích Người thầy đầu tiên của Aitmatov (ai-ma-top))

1.Căn cứ vào đại từ nhân xưng( tôi, chúng tôi ) đan xen vào nhau thực ra cùng một người kể chuyện 
Xưng ‘tôi ‘ được kể theo ngôi thứ nhất số ít và ‘chúng tôi ‘ở ngôi thư nhất số nhiều.
Nhân vật xưng tôi là người con của làng Ku-ku-rêu  kể về hai cây phong gắn liền với chính mình từ thuở bé đến khi trưởng thành.
Nhân vật xưng chúng tôi, trong đó có chính tác giả là nhân vật tôi và những người học sinh với những kỉ niệm êm đềm, đẹp đẽ bên cây phong.
Mạch kể chuyện của nhân vật tôi quan trọng hơn vì đó là người dẫn dắt câu chuyện, được cảm nhận và viết ra bởi ngôn từ của chính tác giả.

Mạch kể chuyện xưng chúng tôi, cái thu hút người kể chuyện cùng bọn trẻ con và làm cho chúng ngất ngây đó là thế giới đẹp đẽ bao la ánh sáng và không gian bao la khi trèo lên cành cây phong ngang tầm cánh chim bay. Nó hiện lên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp với âm thanh, ánh sáng , màu sắc….

2. Người kể chuyện đã miêu tả hai cây phong và quang cảnh nơi đây bằng bút đậm chất hội họa :
‘Hai cây phong khổng lồ với các mắt mấu, các cành cao ngất, cao đến ngang tầm cánh chim bay, với bóng râm mát rượi, với động tác nghiêng ngã….
Có dòng sông lấp lánh, thảo nguyên hoang du,.. và lọt thỏm giữa không gian bao la ấy là chuồng ngựa bé tí teo.
Có màu sắc : chân trời xa thẳm biêng biếc, dòng sông lấp lánh… sợi chỉ bạc…
Hòa vào đó là tiếng lá cây , tiếng gió rì rầm quyến rủ nhau.
Đây là một bức tranh thiên nhiên hài hòa sống động vừa có âm thanh, ánh sáng, màu săc… được vẽ nên bằng ngòi bút tài tình của tác giả thông qua nghệ thuật kể chuyện tự sự kết hợp miêu tả.

soan bai hai cay phong

3. Nguyên nhân khiến hai cây phong chiếm vị rí trung tâm và gây xúc động sâu sắc cho người kể chuyện thông qua mạch kể xưng tôi :
– Hai cây phong gắn với quê hương, làng xóm của tác giả
– Cây phong gắn với những kỉ niệm tuổi học trò tươi đẹp của tác giả
-Thầy Đuy- sen đã đem cây phong về trồng ở ngọn đồi này cùng với cô bé An- Tư-nai. Cây phong đó là sự gởi gắm những ước mơ, hi vọng của thầy dành cho các em học sinh nghèo khổ.

Hai cây phong như là biểu tượng của làng, đó là những tâm tư, nguyện vọng và khao khát. Ở đấy tác giả còn thể hiện tình cảm yêu mến quê hương da diết của mình.

Chuyên mục
Soạn văn 8

Soạn bài Tôi đi học của Thanh Tịnh văn lớp 8

Soạn bài Tôi đi học của Thanh Tịnh văn lớp 8

1. Tác giả:

– Thanh Tịnh sinh ra và lớn lên ở Huế, ông là một người đã làm rất nhiều nghề, từ một hướng dẫn viên du lịch tới nghề viết văn chương. Ông là một tác giả có rất nhiều những thành tựu to lớn trong nhiều thế loại văn học truyện ngắn…

2. Tác phẩm.

Tác phẩm tôi đi học là một tác phẩm xuất sắc của nhà văn, đây là truyện ngắn kể về buổi tựu trường tác giả đã nói theo một trật tự rõ ràng từ quá khứ tới hiện tại… Hiện tại tác giả đang hồi tưởng lại quãng thời gian đã trôi qua của mình, những cảm xúc được đọng lại trong lòng tác giả và những hình ảnh đẹp về quãng thời gian đi học.


3. Bố cục.

Chia làm hai phần: phần 1 nói về sự ngỡ ngàng của các bé ngày đầu tiên đi học, phần 2 thái độ của người lớn trong buổi đầu.


4. Tìm hiểu chung.


1. Những hình ảnh thể hiện những cảm xúc của những đứa trẻ trong buổi đầu tiên đi học.

– Buổi đầu đi tới trường nhân vật tôi được mẹ đưa tới, trong cảm xúc hồi hộp và bỡ ngỡ về trường và lớp mới: không dám bỏ đôi bàn tay của mẹ ra, những hình ảnh rất chi tiết thể hiện đó là trong những tiết học đầu tiên, cảnh vật thì không thay đổi nhưng con người thì ngỡ ngàng. Những cảnh vật bên đường lá bên đường thì rụng nhiều có những đám mây bạc.

– Những hành trang để nhân vật tôi đến trường trên bộ trang phục mới, và có những quyển vở mới… đây là những hình ảnh rất đẹp của tuổi học sinh trong ngày đầu tiên đến trường, nhân vật tôi thì ngỡ ngàng và có những cảm xúc lạ thường bởi đây là ngày đầu tiên tới trường.

– Ai cũng tươi sáng và rạng ngời trên khuôn mặt đầy hạnh phúc, nhưng bạn bè cũng trang lứa cũng bỡ ngỡ và có cảm xúc như nhân vật tôi, sự ngỡ ngàng đó đã mang lại những cảm xúc bồi hồi và hồ khởi, những cậu học trò mới cũng lung túng khi cầm quyển sách và cái bút trên tay, trên không gian lúc này chỉ đầy ắp người, những khuôn mặt lung túng và bỡ ngỡ của những trang lứa trong buổi đầu tiên đi học.

– Ngôi trường hôm nay có điều đó đó khác lạ so với mọi hôm, đây có lẽ là ngày tựu trường trọng đại, một ngày lễ hào hùng sẽ được diễn ra ở đây, thật khiến cho nhân vật tôi cảm thấy lo lắng và có chút e sợ.

– Người mẹ đã đưa nhân vật tôi đến trường và cầm chiếc tay bé nhỏ không rời xa, hôm nay nhân vật tôi thật e thẹn và khi nghe tới tê mình cảm giác thật lo sợ và còn không muốn rời bàn tay của mẹ.


c) Thái độ và cử chỉ của người lớn.

Từ những thầy cô trong trường ngày hôm nay đều niềm nở trong những bộ trang phục lộng lẫy và có phần rất sang trọng, ông tổng đốc hôm nay với khuôn mặt hiền từ, các thầy cô thì niềm nở đón chào học sinh.

Các bậc phụ huynh thì đưa đón con em của mình tới trường một ngày trọng đại nên tất cả đều được chuẩn bị rất chu đáo, những cử chỉ của những người lớn đối với trẻ em thì nhẹ nhàng và còn rất lịch sự đó có thể làm cho nhân vật tôi đỡ có cảm giác xa lạ, những sự gần gữi của tất cả mọi người tạo ra cảm giác gần gũi, và hòa đồng.

Những bạn nhỏ khi đến trường thì có đầy đủ sách vở … tất cả đều được chuẩn bị gọn gàng và tươm tất.

d) Đặc sắc về nghệ thuật thể hiện trong truyện ngắn.

– Truyện là một dòng hồi tưởng và suy nghĩ của tác giả về một buổi tựu trường đầy trang trọng uy nghiêm tất cả đều hiện lên trước mắt theo một tuyến tính của thời gian .

– Truyện có sự kết hợp giữa các biện pháp tiêu biểu vừa kể chuyện vừa tả đan xen vào những yếu tố đó là những lời kể hấp dẫn những chi tiết miêu tả sống động gợi tả ra những cảm xúc rất thấu tình đạt lý.

– Truyện nổi bật lên dòng suy nghĩ của nhân vật tôi, cách kể chuyện của nhân vật tôi thu hút sự chú ý của người nghe bởi giọng điệu đầm ấm, nhân vật tôi đã sắp xếp và kể theo một trật tự có sẵn nó tạo ra một âm điệu ngọt ngào và sâu lắng gợi tả những cảm xúc chân thực.

– Tâm trạng và cảm xúc của nhân vật tôi cũng được luân chuyển theo thời gian nó tạo ra cảm giác biến chuyển và những lay động trong lòng mỗi độc giả sâu sắc.

Chuyên mục
Soạn văn 8

Soạn bài Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ lớp 8

Soạn bài Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ lớp 8.

I. Nghĩa của từ là gì?

– Nghĩa của từ là nội dung của từ đó muốn biểu hiện, ví dụ trong từ xanh nghĩa của nó là chỉ màu sắc và nó mang màu xanh, cụ thể hơn nghĩa của từ là từ để diễn tả ý nghĩa của từ đó.

II. Cấp độ khái quát của từ là gì?

 1. Cấp độ khái quát của từ là mức độ biểu hiện nghĩa của từ trong một phạm vi cụ thể nhất định, nghĩa của từ có thể là mang nghĩa rộng hoặc là từ mang nghĩa hẹp phù hợp vào từ ngữ đó.

2. Từ ngữ nghĩa rộng và từ ngữ nghĩa hẹp.

– Từ ngữ nghĩa rộng: Từ nghĩa rộng là từ có nghĩa bao trùm nên một từ có nghĩa hẹp hơn, ý nghĩa có nó khát quát trong toàn bộ một tác phẩm hoặc một văn bản cụ thể. Từ nghĩa rộng hàm chưa từ nghĩa hẹp. Ví dụ: từ Bà là một từ mạng nghĩa rộng nhưng nằm trong từ bà là bà ngoại lại là từ mang nghĩa hẹp.

– Từ nghĩa hẹp: Nghĩa của nó chỉ biểu hiện một nghĩa cố định hoặc duy nhất, không mang hàm nghĩa gì khác nó nằm trong từ nghĩa rộng.


Luyện tập:


1. Từ màu xanh, đỏ tím vàng… gọi chung là màu sắc. từ màu sắc là từ chỉ cấp độ biểu hiện ý nghĩa của từ.


2. Cá rô, cá chép, cá thu, cá lục, cá chim… gọi chung là hải sản.


3. Bút, thước, tảy compa gọi chung là đồ dùng học tập.

2. Tìm những từ có nghĩa hẹp hơn các từ sau, rồi biểu hiện ý nghĩa:
a. Từ nghề nghiệp mang nghĩa rộng trong từ nghề nghiệp có bao hàm từ bác sĩ, giáo viên, y tá, nhà báo…
b. Truyện dân gian: Bao gồm có cổ tích, truyền thuyết, thần thoại truyện ngụ ngôn…
c. Thú:  Hổ, nai, dê, báo, voi…


3. Tìm 3 động từ cùng thuộc một phạm vi nghĩa, trong đó một từ mang nghĩa rộng hai từ mang nghĩa hẹp:

Từ òa khóc là từ mang nghĩa rộng: trong đó khóc nức nở sụt sùi mang nghĩa hẹp… cả 3 từ này đều chỉ một nghĩa khóc.


4. Lập sơ đồ biểu hiện nghĩa của từ.

a. Từ gốc trang phục nghĩa hẹp là quần, áo…
Trong quần có quần bò, quần vải, quần chun…
Trong áo có áo dài , áo phông, áo len…
Từ trang phục là từ mang nghĩa rộng, từ quần và áo mang nghĩa hẹp và chi tiết là cấp độ biểu thị nghĩa cụ thể hơn.


5. Nghĩa rộng:

Chất lỏng: xăng, dầu…
Chất rắn: than củi…
Chất khí: gas..


b. Nghệ thuật bao gồm âm nhạc điêu khắc hội họa..

Thức ăn: cơm, rau, trứng.
Nhìn: nhìn trái, nhìn phải, nhìn trên, nhìn dưới…

6. Xe cộ: xe đạp, xe máy..

Họ hàng: bác, chú cô..
Kim loại: sắt, dao, kéo…


7. Những từ không phù hợp:

a. Thuốc lào.
b. Thủ quỹ.
c. Bút điện
d. Hoa tai.

Chuyên mục
Soạn văn 8

Soạn bài Tính thống nhất về chủ đề của văn bản lớp 8

Soạn bài Tính thống nhất về chủ đề của văn bản lớp 8:

I.  Chủ đề của văn bản:

a. Trong văn bản tôi đi học Thanh Tịnh đã kể lại ngày đầu tiên đi học qua những hình ảnh tuyến tính theo thời gian từ đầu khi bắt đầu cắp sách tới trường mẹ đưa đi, đến trường mọi thứ như khác lạ sân trường oai nghiêm hơn, khi ông đốc gọi, xếp hàng và học bài học đầu tiên tất cả đều bỡ ngỡ.

b. Tác giả đã thể hiện một tình cảm tiếc nuối và nhớ thương về quãng thời gian đi học của mình, khi tác giả kể lại trong hoài niệm chỉ toàn là những nỗi nhớ thương và những kỉ niệm.

c. Chủ đề của tôi đi học là những nội dung trên vậy chủ đề của tôi đi học có thể đặt là những kí ức của ngày đầu tiên đi học, trong đó sẽ bao chùm lên là cả cảm xúc hành động và những kỉ niệm của ngày đầu tiên tới trường.

d. Chủ đề của một văn bản là gì?

Chủ đề của một văn bản là nội dung xuyên suốt trong một tác phẩm nó bao trùm cả tác phẩm.

2. Tính thống nhất về chủ đề của văn bản

a. Tại sao cần có sự thống nhất?

Cần có sự thống nhất trong một văn bản: vì tính thống nhất tạo nên sự logic, làm cho người đọc người nghe dễ dàng hiểu được những thông tin mình cần truyền đạt và đây là những điều kiện quan trọng để tạo nên sự mạch lạc trong một tác phẩm.

b. Chủ đề tôi đi học: là kể lại những sự việc của ngày đầu tiên nhân vật tôi cắp sách tới trường những cảm xúc và những hành động ngỡ ngàng được thể hiện: Có thể căn cứ vào nhan đề của tác phẩm để đánh giá đây là ngày đầu tiên nhân vật tôi tới trường, từ những cử chỉ ngỡ ngàng, bỡ ngỡ.. chuẩn bị chu đáo tươm tất mọi thứ, tất cra mọi người uy nghiêm trang trọng, khuôn mặt thầy cô rạng ngời, ông đốc hiền từ, khi gọi tên của nhân vật tôi, người lớn đưa con em mình tới trường… đây là nhưng chi tiết làm nổi bật chủ đề của tác phẩm.

Dựa vào cảm xúc của tác giả để có thể thấy những ấn tượng sâu sắc về một buổi đầu tiên tựu trường: sự trong sáng hồn nhiên ngỡ ngàng không muốn rời xa tay mẹ, lo sợ khi ông đốc gọi tên thể hiện cảm xúc ấn tượng, những bộ trang phục thầy cô mặc trạng trọng, ngôi trường uy nghiêm, nhân vật tôi ngập ngừng e thẹn, rụt rè, lo sợ khi thấy gọi tên, không muốn rời xa tay mẹ, những hành động để lại cho nhân vật tôi những cảm xúc khó quên khóc nức nở khi ông đốc gọi tên, đánh rơi vở do sự lo sợ… tất cả những cảm xúc đó thể hiện là ngày đầu tiên đi học để lại nhiều ấn tượng đẹp.

Luyện tập:


1.  Tìm chủ đề:

a.Chủ đề của tác phẩm trên là: Cảnh vật thiên nhiên cụ thể là rừng cọ và cuộc sống cảu con người đối với rừng cọ.

b. Những từ ngữ thể hiện đúng được chủ đề tác phẩm: rừng cọ, thân cọ, búp cọ…
Những câu thể hiện con người gắn với đồi cọ “ cuộc sống quê tôi gắn với đồi cọ”.. không nơi nào đẹp như sông Thao quê tôi….

c. Các đoạn văn được thể hiện theo một thứ tự xác định: ở đây cảnh vật thiên nhiên là rừng cọ, con người sống với rừng cọ, và cảm xúc của con người với rừng cọ.

Có thể thay đổi được: nếu sắp xếp như thể hiện tình cảm của con người trước sau đó nêu cảm xúc và cuối cùng nói về hình ảnh của rừng cọ… đây cũng là cách để người đọc hiểu được chủ đề tác phẩm.

2. Trong câu dưới câu:b, d,e nó có thể phù hợp với chủ đề của văn bản.

3. Các ý có thể phù hợp với chủ đề c, g. Đây là cảm xúc của nhân vật tôi đang kể lại kí ức của mình trong buổi ngày đầu tiên đi học, tác giả đang hồi tưởng lại, chứ không phải phân tích.

Rất nhiều những chi tiết thể hiện: Con đường quen thuộc những hôm nay lạ, ngôi trường có vẻ uy nghiêm, thấy sự gần gũi của thầy cô…

4. Khi viết một văn bản cần chú ý tới chủ đề của tác phẩm, chủ đề phải bao trùm lên nội dung xuyên suốt của tác phẩm đó, cần có sự thống nhất mạch lạc logic, sử dụng từ ngữ linh hoạt và phù hợp với ngữ cảnh.

Tác giả đã thể hiện tình yêu của mình đối với ngôi trường và những cảm xúc của tác giả: sự bỡ ngỡ, những sự nghẹn ngào ngạc nhiên, và những lo sợ, thẹn thùng đây là những cảm xúc của tác giả trong buổi đầu tiên đi học.

Chuyên mục
Soạn văn 8

Soạn bài Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng văn lớp 8

Soan bai Trong long me cua Nguyen Hong – Đề bài: Soạn bài Trong lòng mẹ trích những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng văn lớp 8.

1. Tác giả.

Nguyên Hồng là một tác giả nổi tiếng ông đã có rất nhiều những tác phẩm hay để lại nhiều sâu sắc trong lòng người đọc, ông đã có những đóng góp lớn lao cho sự nghiệp văn chương nước nhà.


2. Tác phẩm.

Trong lòng mẹ là tác phẩm xuất sắc của ông đây là hồi kí của ông kể lại những kỉ niệm với người mẹ, những tình cảm sâu lắng của người mẹ đối với con,tác giả đã sử dụng hồi kí để kể lại tác phẩm này một cách xuất sắc và để lại nhiều ấn tượng.

3. Bố cục:

Chia làm 3 phần:
Phần 1: Là sự xuất hiện của nhân vật cô.
Phần 2: Tình cảm của người con đối với mẹ.
Phần 3: Những lời chế diễu

4. Tìm hiểu chung.


4.1 Sự xuất hiện của nhân vật cô.

– Sự xuất hiện của nhân vật cô làm cho tác phẩm thêm nổi bật hơn, đây chỉ là nhưng lời đối thoại ngắn những cũng đủ để thể hiện được tư tưởng của tác phẩm.

– Người cô xuất hiện trong tác phẩm là một người mưu mô xảo quyệt một người rất độc ác..đối với người cháu đã mang bao những hiềm khích và cả những lời nói cay động nhằm chia rẽ tình cảm của mẹ với con.

– Người cô là một người phụ nữ nhưng lại không thấu hiểu được tấm lòng của những người làm mẹ, đối với một cậu bé mồ côi không yêu thương chăm sóc thì thôi lại còn có bao nhiêu những thái độ xấu, những lời nói, reo dắt vào đầu người cháu của mình những điều xấu xa.

– Không ưa gì mẹ của người cháu này nên người cô độc ác này đã dùng mọi những hành động xấu xa để chia cắt họ, những lời nói mang tính chất độc ác…

– Những lời nói xấu xa chia rẽ, bằng những cảm xúc và hành động đáng kinh bỉ: “có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ không? Má mày phát tài lắm không như trước đâu”: câu đầu tưởng rằng đây là ý tốt đẹp muốn đưa Hồng đi thăm mẹ nhưng đằng sau lại là con dao đâm thẳng vào tim Hồng, mẹ mày phát tài lắm..sự chế nhiễu và những lời nói mang những sự xảo quyệt xấu xa..

– Tình cảm của Hồng với mẹ vẫn không hề thay đổi cho dù người cô xấu xa này có reo rắt vào đầu những điều xấu gì. Thật đáng kinh bỉ cho con người không biết tình mẫu tử.

4.2. Cảm xúc và tình cảm của người con đối với mẹ.

– Mặc dù bị bà cô luôn reo dắt trong đầu một hình ảnh người mẹ vô cùng xấu xa nhưng Hồng hiểu được tấm lòng của người mẹ, không những Hồng không trách mẹ của mình mà còn thương và vô cùng yêu quý.

– Người con đã hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh của người mẹ nếu thực như người mẹ có lấy người khác thì Hồng thấy đó là điều không có gì lạ bởi do cuộc sống khó khăn, do mưu sinh người mẹ phải bỏ lại con để tha phương tìm ăn, kiếm sống.

– Hồng là một người con tuy tuổi nhỏ những lại có một tấm lòng bao dung, sự bao dung của Hồng được biểu hiện qua hàng loạt những hành động kiên quyết, khi bà cô gian xảo đó reo dắt vào đầu những hành động xấu thì vãn không hề thay đổi thái độ đối với người mẹ của mình.

– Một tình yêu vô bờ bến của người con, người con hiểu được những điều thầm kín và sâu sắc trong lòng của người mẹ, và người con đã thấu hiểu nỗi khổ đau của người mẹ.

4.3. Khi gặp lại mẹ của mình

– Qua những lời chế diễu xấu xa của bà cô Hồng vẫn không hề thay đổi thái độ của mình với mẹ, vẫn khao khát được gặp lại Mẹ của mình…

– Khi gặp lại chỉ thoáng qua thôi Hồng đã nhận ra đó là mẹ của mình sự mừng rỡ của Hồng thể hiện một tình yêu mẹ vô bờ bến, người con thấu hiểu nỗi khổ của mẹ nên ngày càng yêu thương mẹ hơn.

– Những hành động đó biểu hiện con người của tác giả là có tình yêu mẹ vô bờ bến Hồng hiểu và xót xa cho số phận mẹ của mình, niềm đau đớn trong Hồng đã thấm sâu vào những đứa trẻ một tâm hồn trong sáng.

5. Nghệ thuật:

Những lời kể chuyện nhẹ nhàng đan xen là những cung bậc cảm xúc thầm kín, một tình yêu mẹ vô bờ bến của tác giả thông qua những mâu thuẫn chuyện rất sâu sắc mặc dù bị reo giắt điều xấu nhưng Hồng không thay đổi.

6. Ý nghĩa.

Tác phẩm đã mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc, thể hiện tấm lòng cao thượng và qua bài này cũng thể hiện một chủ nghĩa nhân đạo và phê phán những kẻ xấu xa như bà cô của Hồng.

Chuyên mục
Soạn văn 8

Soạn bài Trường từ vựng văn lớp 8

Soạn bài Trường từ vựng văn lớp 8:

1. Khái niệm.

– Trường từ vựng: là những từ ít có những nét chung về nghĩa đây là một trường rộng lớn thể hiện một quan hệ biểu hiện nghĩa của từ và mang một ý nghĩa sâu rộng.
– Cùng trường từ vựng chỉ người: anh, chị, trẻ em, người lớn…
– Cùng trường từ vựng chỉ thực vật: cây cối, lúa rau…
– Tùy thuộc vào mục đích và cũng có những trường từ vựng có đồng nghĩa và cũng khác nghĩa ví dụ:
Động vật: trâu, bò, lợn gọi chung là gia cầm nhưng hổ báo… gọi là thú..


2. Phân biệt trường từ vựng và cấp độ khái quát chung của nghĩa:

Trường từ vựng là những từ ít có những nét chung về nghĩa, nó biểu hiện một nghĩa rất rộng. Ví dụ từ ông, chị, em…
Còn cấp độ khái quát thì là từ biểu hiện nghĩa của từ và có thể mang những nét chung về nghĩa. Ví dụ trong từ bà có bà nội, bà ngoại, bà bác…

Bài tập:

1. Những từ thuộc trường từ vựng nói về quan hệ ruột thịt: tôi, thầy tôi, anh em tôi…

2,.Đặt tên trường từ vựng.

a.Dụng cụ đánh bắt thủy hải sản: nơm, vó, lưới..
b.Dụng cụ để đựng: hộp, bát, thùng đĩa…
c. Hoạt động của chân: đi, chạy, đứng, nhảy…
d.Trạng thái tâm lý: buồn, vui, vô cảm…
e. Tính cách: hướng ngoại, thân thiện, hòa đồng, hoạt bát…
g. Dụng cụ để viết: Bút chì, bút bi, bút mực…
3. Các từ in đậm: Hoài nghi, khinh bỉ,thương yêu, kính trọng.. đây là trường từ vựng thể hiện thái độ của con người…

4. Xếp từ ngữ theo đúng trường từ vựng.

a. Khứu giác: thính, điếc, thơm..
b.Thính giác tai nghe, điếc thính, rõ thính..
c.Các từ lưới, lạnh,tấn công là những từ nhiều nghĩa:
Lưới đây là chỉ một dụng cụ đánh bắt, được đan lại để che chắn một con vật hoặc một vật nào đó.
Lạnh đây là chỉ cảm giác của con người, cảm giác lạnh khi gió hoặc trở mùa.
Tấn công: đây là chỉ hành động đang khiêu chiến, hoặc đang giữ thế chủ động…

5. Trong bài dưới tác giả đã chuyển từ trường quân sự sang trường nông nghiệp:
Ruồng rẫy là chiến trường, cày cuốc là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương…

Chuyên mục
Soạn văn 8

Soạn bài Bố cục của văn bản văn lớp 8

Soạn bài Bố cục của văn bản văn lớp 8

1. Bố cục của văn bản:

– Trong văn bản người thầy cao đức trong: bố cục của tác phẩm chia làm 3 phần:

Phần 1: Mở đầu giới thiệu về vấn đề xuất hiện trong câu truyện.
Phần 2: Thân bài: đây là phần diễn biến của câu chuyện.
Phần 3: Kết bài.

2. Nhiệm vụ của từng phần:

Trong một văn bản bố cục là phần rất quan trọng nó đóng vai trò định hướng và xác định rõ được ý kiến mà tác giả muốn trình bày:
Mở bài: đây là phần trình bày về vấn đề, giới thiệu về nội dung định giới thiệu trong phần thân bài, có thể là khái quát.
Thân bài: triển khai vấn đề, đây là phần khai triển những vấn đề hay diễn biến câu chuyện đã được khái quát trong phần mở bài.
Kết bài: Kết luận lại vấn đề hoặc kết quả cuối cùng của câu chuyện.

3.. Mối quan hệ giữa các phần:

Mở bài có mối quan hệ với thân bài đây là phần giới thiệu những nội dung chính sẽ trình bày hoặc diễn ở ở thân bài.
Thân bài có mối quan hệ với kết luận: thường thì kết luận sẽ tổng kết lại thân bài và chốt lại vấn đề chính hoặc hệ quả của vấn đề đã được trình bày ở phần thân bài.


4. Từ việc phân tích ta thầy văn bản người thầy đức độ chia làm 3 phần:

Phần 1: giới thiệu về nhân vật định trình bày: đó là ông Chu Văn An một người thày giáo giỏi và đức độ.
Phần 2: Diễn biến quá trình dạy học của ông, những hành động chi tiết được thể hiện ông là người đức độ.
Phần 3: Do ông đức độ nên khi ông mất đi ai cũng thương tiếc, nó đánh giá và tổng hợp phần mở bài và thân bài đã nói.


II Cách sắp xếp phần nội dung của thân bài:

1. Trong tôi đi học Thanh Tịnh đã sắp xếp theo hồi kí theo trình tự thời gian xác định và tác giả đã kể lại.

2.Trong tác phẩm Trong Lòng Mẹ thường thì được diễn biến theo tâm trạng của cậu bé Hồng từ khi bà cô xuất hiện, đến những suy nghĩ của riêng tác giả và khi được gặp mẹ, đây là diễn biến theo tâm lý nhân vật.

3. Khi tả người, vật thì cần tả diễn biến trước sau đó đánh giá và lấy dẫn chứng về hành động đó…

4. Phần thân bài của văn bản người thầy đức độ đã nêu rõ được chủ đề tư tưởng trong tác phẩm:

Thân bài là phần khai triền vấn đề của mở bài: trong phần này đã nêu được diễn biến là ông đã có rất nhiều học trò theo học, nhiều người theo học và đã đỗ cao và được mời về dạy cho Thái tử…
Nội dung cơ bản của phần thân bài: là khai triển vấn đề: đánh giá và phân tích vấn đề theo một trình tự trọn vẹn và đánh giá trên mọi khía cạnh.

Luyện tập:

1. a.Trong phần này đã trình bày theo trình tự thời gian: xa gần, ..

b. Ở đây khai triển theo trình tự không gian..
c. Ở đây sắp xếp theo tầm quan trọng của vấn đề,c ái nào quan trọng và chính sẽ được trình bày trước…

2. Nếu trình bày Lòng thương mẹ của Nguyên Hồng thì cần có những ý sau:

– Khi bà cô nói xấu thì cậu bé vẫn giữ vững lập trường mà không hề thay đổi thái độ với mẹ.
– Hiểu cho tấm lòng của người mẹ, hiểu lý do tại sao mẹ phải tha phương kiếm sống.
– Khi gặp gỡ vui mừng..thể hiện tình cảm với người mẹ.
– Có tấm lòng bao dung và tình yêu thương mẹ vô bờ bến.

Chuyên mục
Soạn văn 8

Soạn bài Tức nước vỡ bờ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố

Soan bai tuc nuoc vo bo – Đề bài: Soạn bài Tức nước vỡ bờ trích trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố ngữ văn 8.

1. Tác giả:

– Ngô Tất Tố: là nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam, ông đã có rất nhiều những đóng góp lớn lao trong việc phê phán hiện thực xã hội phong kiến.

2. Tác phẩm.

Tức nước vỡ bờ là tác phẩm nổi tiếng của Ngô Tất Tố đây là tác phẩm đã tố cáo tội ác của bọn quan lại thối nát, chỉ biết ăn chơi không lo cho nhân dân.

Tác phẩm đã để lại nhiều tiếng vang lớn trong nền văn học nước nhà đặc biệt trong việc phê phán.

3. Bố cục.


Chia làm 3 phần:

Phần 1: Nói về những hành động xấu xa của bọn quan lại.
Phần 2: Nói về những hành động của chị Dậu.
Phần 3: Hành động chống trả để đòi công lý.


4. Tìm hiểu chung.


4.1 Cảnh lính kéo đến nhà chị Dậu khi anh Dậu mới được thả khỏi tù.

Đang cho anh Dậu ăn cháo, chị Dậu đang nhìn chồng mình ăn cháo thì hoảng hốt khi thấy những tên quan lại và bọn lính kéo đến, chị run rảy và van xin.

Hành động của bọn lính và quan lại thật độc ác nó bắt chồng chị Dậu và tra tấn dã man, đang mang bệnh và chưa khỏi quân lính lại kéo đến thu phí chị Dậu đã van xin.

Ăn một miếng cháo cũng không ngon mới bưng lên chưa tới miệng mà đã bị bọn chúng đã đến, hành động của bọn chúng mất hết nhân tính, đi bóc lột của cải và sức lao động của nhân dân bắt nhân dân nộp sưu thuế cao.

4.2 . Nhân vật cai lệ.

Tên cai lệ là tên đứng đầu bọn lính ở huyện đường chuyên đi đòi sưu thuế, đây là một tên độc ác chỉ làm những điều sai trái.

Khi đến nhà chị Dậu hắn đã đập roi xuống bàn quát: thằng kia nộp sưu thuế tao tưởng mày chết hôm qua rồi, mau nộp sưu thuế mau, cái hành động không giống người đó đã khắc sâu vào trong lòng người đọc một chế độ độc ác mất hết nhân tính, anh Dậu mới ốm dậy những bọn chúng cũng không tha.

Những tên cai lệ này chỉ làm những điều sai trái cho lý trưởng khi chúng đi đòi sưu thuế nặng của người nghèo, cái hành động đã đã có ảnh hưởng tới người đoc, mỗi người khi đọc tới chi tiết này đều căm phẫn trước những hành động xấu xa của bọn chúng.

Khi chị Dậu van xin bọn chúng đã quát mắng và đã có những hành động đểu giả, chúng đánh chị Dậu vào ngực rồi ra sân bắt trói anh Dậu, những hành động thiếu nhân tính đã được bọn chúng sử dụng, thật sự tàn ác và không có chút lương tâm.

Tính mạng của con người đang bị đe dọa nhưng bọn chúng chỉ cần tới quyền lợi là đòi được sưu thuế không thì sẵn sàng đánh, và có những hành động dã man với người dân.

Tên cai lệ có khuôn mặt sát khí, hắn là công cụ để tên lý trưởng thực hiện tội ác thật đáng phê phán cho những người chỉ là một công cụ cho người khác sai khiến và điều khiển.

4.3. Những hành động của Chị Dậu.

Khi những tên cai lệ đến chị đã có những hành động lo sợ, chị van xin khi những tên lính đó bắt trói anh Dậu, chị van xin và bảo vệ cho anh Dậu.
Nhưng khi càng van xin bọn chúng càng quát mắng và có những hành động độc ác hơn, chị đã bảo vệ lấy quyền lợi của chính mình, và cho chồng của mình.

Tính mạng của anh Dậu đang bị đe dọa và chị đã van xin và còn bị bọn nó đánh vào ngực, chị vẫn nhẫn nhịn, khi chúng nó có những hành động độc ác khác chị đã bảo vệ và che trở thì cũng bị bọn nó đánh và mặt cho bốp…

Khi những tên lính đó vẫn tới trói anh Dậu thì chị Dậu đã vùng dậy lúc này, chị không còn sợ những tên lính này nữa, chúng tới trói chị đã mạnh mẽ nói: chúng bay tới trói chồng ta đi tao cho chúng mày biết tay, những lời nói đó đã thể hiện sự mạnh mẽ của chị Dậu, khi bị bọn chúng dồn tới đường cùng chị đã đấu tranh cho quyền lợi của chồng mình.

Sự vẫy dạy của chị thể hiện một sức mạnh to lớn của chị đối với cái bọn quan lại thối nát và không có nhân tính, chị đã vùng dậy sau sự độc ác áp bức bóc lột và đưa con người tới cái chết.

Chị biểu hiện cho sự đấu tranh chống bọn tàn ác, và đây là một hiện tượng anh hùng của người phụ nữ đã biết đứng lên đấu tranh để đòi lại công lý.


4.4 Hành động đấu tranh của chị Dậu đã biểu hiện rõ được cái nhan đề.

Khi con người bị áp bức bóc lột tới một giới hạn nhất định con người sẽ vùng lên đấu tranh để đòi lại công lý hành động của chị Dậu đã làm tăng lên ý nghĩa của hành động biết đấu tranh chống lại cái ác và cái xấu.

5. Nghệ thuật.

Câu chuyện đã diễn biến theo một đà là con người đã biết đứng lên đấu tranh cho những hành động xấu xa, tác giả đã sử dụng những hành động mạnh để nói lên sức mạnh của con người khi vùng lên đòi lại công lý.

6. Ý nghĩa.

Tác phẩm đã nêu lên một hiện thực xã hội lúc bấy giờ, những hiện thực về những tên quan lại thối nát.
Con người đã biết đứng lên đấu tranh để đòi lại công lý.

Chuyên mục
Soạn văn 8

Soạn bài Xây Dựng Đoạn Văn Cho Văn Bản lớp 8

Soạn bài Xây Dựng Đoạn Văn Cho Văn Bản lớp 8.

I. Thế nào là đoạn văn.

 1. Trong tác phẩm ngô tất tố gồm có 3 phần, mở bài thân bài và kết bài mỗi đoạn là một đoạn văn được phân biệt bằng việc viết hoa lùi đầu dòng.

Đặc điểm của một đoạn văn: Mỗi đoạn văn đều được trình bày theo một hình thức cụ thể có thể nhận diện một đoạn văn theo những hình thức mà tác phẩm đó thể hiện, mỗi đoạn văn có một chủ đề xuyên suốt và bao hàm lên cả một đoạn văn đấy, đoạn văn đấy có câu chủ đề và có những ý khai triển.

2. Từ ngữ và câu trong đoạn văn.

Mỗi đoạn văn đều có những từ ngữ nhất đinh, trong mỗi câu cũng bao hàm những từ ngữ đó, đó là những cấu trúc rõ ràng và được xác định, mỗi từ ngữ mang một nghĩa nhất định và nó được ghép lại để tạo nên một câu mang ý nghĩa hoàn chỉnh và xác định, thể hiện được nội dung biểu đạt trong đoạn văn đó, mỗi đoạn văn đều có những từ ngữ và câu thể hiện được chủ đề tư tưởng của đoạn văn đó.

Từ ngữ chủ đề và câu chủ đề trong đoạn văn.

1. Câu này chưa từ ngữ của đoạn văn trong tắt đèn.

2. Chưa chủ đề của tác phẩm tắt đèn đó là những câu mang ý nghĩa phục vụ cho tư tưởng của tác phẩm.

Từ ngữ chủ đề là những từ ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần trong câu.

Câu chủ đề: là câu chưa nội dung tư tưởng mà chủ đề tác phẩm thể hiện.

Cách trình bày nội dung của chủ đề văn bản: Cần trình bày nội dung của văn bản theo những hướng xác định, cần có câu chủ đề và có từ ngữ chủ đề.

Trong văn bản Ai nhầm có thể được chia làm hai ý chính:

Đoạn 1: chủ đề của đoạn này nói về ông thầy lười đã chép nhầm văn tế.

Đoạn 2: Sự phản biện của ông về hành động sai trái là chết nhầm.


2. Cách trình bày đoạn văn:

Diễn dịch, song hành,song hành.

3. Viết đoạn văn theo kiểu diễn dịch: “Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta”:

Nhân dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, và đã chiến đấu rất nhiều cuộc đấu tranh và đã giành thắng lợi.Các cuộc đấu tranh tiêu biểu như của Hai Bà Trưng, Bà Triệu…, tinh thần chiến đấu hết sức hào hùng, đã giành thắng lợi. Những cuộc chiến đấu đó đã đi vào vào lịch sử của dân tộc, nó tạo lên một sử hào hùng vẻ hùng vẻ vang…

4. Chuyển đoạn văn vừa viết thành quy nạp:

Nhân dân ta có truyền thống yêu nước đấu tranh chống giặc ngoại xâm có rất nhiều những tấm gương sáng, trong đó có rất nhiều cuộc đấu tranh tiêu biểu của Hai Bà Trưng, Bà Triệu… những vị anh hùng có công với đất nước, đây là những người có công và nó có vai trò đặc biệt quan trọng để xây dựng một đất nước giàu đẹp và giành được độc lập tự do.

5. Viết đoạn văn về sự thất vọng là mẹ thành công:

a. Từ thất bại là mẹ thành công có nghĩa là: từ thất bại ta có thể vươn lên cố gắng để đạt được thành công, thất bại để đạt động lực, những thất bại trong cuộc sống người ta vận dụng vào cho cuộc sống, những thất bại trong cuộc sống là nền tảng để cho họ cố gắng và thành công.

b. Người xưa nói câu thất bại là mẹ thành công là do họ gấp phải nhiều thất bại những từ thất bại đó học đã vươn lên để đạt được thành công.

c. Câu tục ngữ thất bại làm mẹ thành công: được nhân dân ta sử dụng rất rộng dãi, lấy câu đó để vận dụng vào cuộc sống, những thất bại làm động lực.

Chuyên mục
Soạn văn 8

Soạn bài Lão Hạc của Nam Cao lớp 8

Soan bai Lao Hac cua Nam Cao – Soạn bài Lão Hạc của Nam Cao ngữ văn lớp 8. Bài soạn văn của cô giáo Nguyễn Phương Thảo trường THPT chuyên Hùng Vương – Việt Trì.

1.  Tác giả.

– Nam Cao là nhà văn hiện thực của cách mạng Việt Nam, ông đã có rất nhiều những đóng góp đáng kể cho nền văn học nước nhà, tiêu biểu cho thể loại văn chương của ông là ở lĩnh vực truyện ngắn…


2. Tác phẩm.

Trước cách mạng tháng 8 người nông dân đã phải chịu rất nhiều những mất mát đau thương, tiêu biểu cho phong cách của Nam cao là viết về hiện thực nên ông đã sáng tác tác phẩm này để nêu lên hiện thực của người nông dân trước cách mạng.


3. Bố cục.

Chia làm 2 phần:
Phần 1: diễn biến câu chuyện ông Hạc bán chó.
Phần 2: Cái chết của ông.

4. Tìm hiểu chung.
4.1 Diễn biến câu chuyện ông Hạc bán chó

Do hoàn cảnh gia đình nghèo khổ, người vợ của ông mất sớm, gia đình chỉ còn lại là ông và người con trai, nhưng sau khi mẹ mất người con trai cũng bỏ đi đồn điền làm, ông lão này giờ chỉ còn cô độc một mình, bơ vơ.

Chán nản về cuộc sống đơn độc người làm bạn của ông lúc này là con chó vàng, ông hết mực yêu thương nó, cho ăn uống, và còn mang ra ao tắm cho nó, có một con vật cho vui cửa vui nhà, xung quanh ông cũng không có ai, con chó này ông coi như người thân của mình.

Nhưng rồi do hoàn cảnh túng khó tuổi già sức yếu nên ông cũng không chăm lo cho bản thân được, đến cơm gạo cũng hết chẳng có gì mà ăn, bản thân ông còn không chăm được chính mình huống chi còn nuôi một con chó.

Ông quẫn thẫn và quyết định một hướng giải quyết cho tốt nhất, ông đã từng muốn giữ lại con chó này cho người con, nhưng bây giờ hoàn cảnh khó khăn, ông không biết dựa vào đâu để sống, cuộc sống đói khổ bao quanh con người ông, khi ong nghèo đói không chăm được cho nó ông cảm thấy có lỗi.

Ông quyết định bán con chó này đi, nhưng trong lòng thì dằn vặt bởi nó đã gắn bó với ông từ rất lâu rồi, nó là người bạn duy nhất của ông khi ông bán nó đi thì cuộc sống của ông sẽ trở nên vô vọng và đơn độc hơn rất nhiều bởi nó là người thân thiết nhất của ông.

Sau khi đi chợ bán con chó này, ông cố tỏ ra bình thường và vẫn vui vẻ nhưng sự thật thì sau những lời nói và hành động thì thấy được sự nghẹn ngào trong con người ông, ông móm mém, cặp mắt ầng ầng nước, những nỗi buồn được đan xen trong con người ông, ông đau khổ…

Sự đau đớn của lão Hạc đã được tác giả sử dụng từ ầng ậc móm mém khóc..nhưng hành động này thể hiện sự đau đớn trong con người của ông, ông tuyệt vọng và đau đớn vô cùng khi kỉ vật duy nhất với người con trai và người bạn thân thiết nhất của ông ông đã bán đi.

Sau khi bán con chó đi ông đã gửi nhờ người hàng xóm của mình trông nom cho căn vườn đâu là tài sản duy nhất ông để lại cho con của mình.

Có một số tiền ít ỏi ông tích góp để nhờ hàng xóm lo ma chay cho ông khi ông mất.

Ông lão Hạc là một người cũng rất đáng thương, một khiếp người nghèo khổ, nhưng ông vẫn sống trách nhiệm và tình cảm.

4.2. Cái chết đau đớn của lão Hạc.

Cái đói cái khổ đã cướp đi tính mạng của ông, một xã hội bị bần cùng hóa con người không có một chút lương tựa.

Ông đã đau đớn và bệnh tật nặng nên cái chết của ông cũng được coi là một cuộc giải thoát.

Ông chết đi là đang thoát khỏi cái nghèo khổ, cái túng thiếu.

Cái chết của ông đã có một giá trị tố cáo sâu sắc, những bọn quan lại sống không nhân tính để nhân dân lầm than đói khổ.

Sự ra đi của ông cũng mang một ý nghĩa sâu sắc khi con người mang bệnh tất không có ai giúp đỡ..

5. Nghệ thuật.

Với những hiện thực xã hội trước cách mạng tháng 8 ông đã bộc lộ rõ được sự đói khổ và hiện thực đau đớn của người nông dân trước cách mạng.

Bài này cũng mang một giá trị nhân đạo: tính mạng của con người cũng vô cùng quan trọng nhưng bọn ác lại không cứu chữa vừa tố cáo thế lực bù nhìn vừa thương xót cho những người nông dân đói khổ.